CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 1. Chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược Chiến lược là thuật ngữ có nguồn gốc từ quân sự, trong quân sự thuật ngữ chiến lược thường được sử dụng để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc đối phương có thể làm và cái gì đối phương không thể làm. Trong khoa học quản trị kinh doanh tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược chẳng hạn như: Theo Jame B.
Quian ( Đại học Darmouth, Mỹ): “ Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau” [4] Theo GS.TS Philipe Lassere (Viện nghiên cứu châu Âu, Singapore): “Chiến lược là các phương thức mà các công ty sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì những thành công” [3]. Mục tiêu tối thiểu là phải làm sao tiếp tục tồn tại được, nghĩa là phải có khả năng thực hiện được các nghĩa vụ một cách lâu dài và có thể chấp nhận được Theo Michael E. Portor ( Đại học Harvard, Mỹ): “ Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt” [9] “ Chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh” Tức là cái quan trọng là phải lựa chọn cái gì cần thực hiện. “ Chiến lược là việc sáng tạo tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty” Một cách chung nhất có thể hiểu: Chiến lược là một chương trình hoạt động tổng thể nhằm đạt được một hay một số mục tiêu bằng những giải pháp thích hợp trong môi trường và thời gian nhất định [5].
Như vậy, những chiến lược chủ yếu của một doanh nghiệp bao gồm những mục tiêu, đảm bảo về nguồn lực để đạt được những mục tiêu và chính sách chủ yếu cần được tuân theo trong khi sử dụng những nguồn lực này. Khái niệm chiến lược sản xuất kinh doanh. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, hay nói cách khác: 5 Chiến lược kinh doanh là các giải pháp để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, các giải pháp ở đây chính là các sách lược được đưa ra để thực hiện các mục tiêu. Chiến lược được xem là những kế hoạch cho tương lai, tức là những chiến lược được dự định và hành động được thực hiện nhằm giúp công ty đạt được những mục đích và mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng chiến lược kinh doanh bao hàm các nội dung chủ yếu sau [6]: - Xác định mục tiêu ngắn hạn, dài hạn mà doanh nghiệp muốn đạt đến; - Nghiên cứu đề xuất những phương án để đạt được mục tiêu; - Lựa chọn phương án khả thi, triển khai phương án và huy động nguồn lực để thực hiện. Chiến lược kinh doanh bao gồm các chiến lược như: Chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược Marketing, chiến lược xúc tiến và các chiến lược khác. Các thuộc tính của chiến lược kinh doanh Có tính tổng thể: Thuộc tính này phản ánh chiến lược chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất, cốt lõi nhất, hay nói cách khác đi nó chỉ xem xét đến những yếu tố bản chất nhất của vấn đề đặt ra, loại bỏ tất cả những gì thứ yếu, không bản chất Với thuộc tính này, khi đi hoạch định chiến lược nào đó người ta không chỉ “thiết kế chi tiết” một chương trình hay dẫn dắt từng bước đi cụ thể có tính chất như xác lập một giới hạn hành lang để dẫn đường đi tới mục tiêu đã xác định. Về tính mục đích: Bất kể hoạt động nào của con người đều là những hoạt động có mục đích, vậy chiến lược do con người đặt ra cho hoạt động của mình cũng có thuộc tính mục đích.
Mục đích của chiến lược tuy rất đơn giản trong biểu hiện và tưởng chừng như dễ xác định, nhưng việc xác định mục tiêu là rất khó khăn và rất phức tạp. Người ta thường đề cập đến quá trình nghiên cứu xây dựng chiến lược để đạt được mục tiêu, nhưng thực chất quá trình thiết kế chiến lược luôn theo đuổi mục tiêu ban đầu và nhiều khi phải thay đổi mục tiêu trong quá trình xây dựng chiến lược. Về tính không gian và thời gian. Chiến lược có tính không gian tương đối như: Chiến lược mang tính quốc gia, 6 của một vùng, hay của một địa phương hoặc của mỗi đơn vị kinh tế chẳng hạn như chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia, chiến lược phòng thủ quốc gia, chiến lược phát triển của ngành, chiến lược phát triển của doanh nghiệp, chiến lược phát triển hộ gia đình, chiến lược học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ,… Như vậy, không phải những hoạt động gì có quy mô lớn ta mới cần có chiến lược hay mới gọi là chiến lược.
Chiến lược có tính thời gian tương đối: Cũng không nên cho rằng những công việc hoạch định trong một thời gian dài mới gọi là chiến lược. Vấn đề ở chỗ sau khi thực hiện một chiến lược đối với một đối tượng nào đó thì đối tượng này có sự biến đổi về chất hay không? Mặt khác một chiến lược cần thực hiện được thì đòi hỏi cần thiết phải có yếu tố thời gian để thực hiện. Về tính thay đổi về chất Thuộc tính này được coi là bản chất của chiến lược, với một chiến lược phải tạo ra một sự chuyển biến về chất của sự vật và hiện tượng mà ta cần quan tâm giải quyết. Đây cũng là vấn đề then chốt để phân định giữa chiến lược và sách lược.
Bản thân sách lược chỉ là việc thực hiện các giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu chiến lược. Thực chất nó làm cho sự vật và hiện tượng chuyển hóa dần về lượng và để đi tới chuyển biến về chất. Tác dụng của chiến lược kinh doanh: Trong nền kinh tế thị trường có cạnh tranh gay gắt, một doanh nghiệp muốn thành công thì phải có một chiến lược, chiến lược kinh doanh có tác dụng mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì: - Giúp các doanh nghiệp thấy rõ hướng đi của đơn vị trong tương lai, nhận thức được những thời cơ, cơ hội và nguy cơ thách thức có thể xẩy ra, nhằm giúp các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp với môi trường đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. - Giúp các doanh nghiệp tạo ra những cơ hội kinh doanh tốt hơn thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tạo cơ sở tăng sự liên kết và tăng sự gắn bó của nhân viên quản trị trong việc thực hiện mục tiêu doanh nghiệp.
- Tùy từng mục tiêu theo đuổi mà chiến lược kinh doanh có thể giúp tăng doanh số bán ra, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả quản trị, tránh được rủi ro về tài chính, tăng khả năng phòng ngừa, ngăn chặn các vấn đề khó khăn của doanh nghiệp. Phân loại chiến lược kinh doanh : Có nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh khác nhau, cụ thể: a. Phân loại theo phạm vi của chiến lược kinh doanh: - Chiến lược chung (chiến lược tổng quát): Chiến lược chung thường đề cập những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Chiến lược bộ phận: Giải quyết các vấn đề trong sản xuất kinh doanh để thực hiện chiến lược tổng quát. Chiến lược đặc thù bao gồm nhiều chiến lược như: Chiến lược thị trường. Chiến lược sản phẩm. Chiến lược giá cả.
Chiến lược phân phối. Chiến lược cạnh tranh. Chiến lược tổ chức nhân sự. Chiến lược đầu tư công nghệ.
Chiến lược tài chính Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh. Ngày nay, môi trường kinh doanh thay đổi liên tục và diễn biến phức tạp; đồng thời, nhiều yếu tố môi trường tác động dây chuyền trên phạm vi toàn cầu như: Chính trị, kinh tế, công nghệ, xã hội, v. nhất là từ cuối thế kỷ 20 đến nay và xu hướng trong thời gian sắp tới, vì vậy chiến lược chung phải thay đổi cho phù hợp với bối cảnh hội nhập. Chiến lược chung thường bao gồm một hệ thống các quyết định và các mối giao dịch như: Thay đổi cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, phân quyền rộng rãi cho cấp dưới, thiết kế lại các qui trình làm việc đơn giản và hiệu quả, giảm bớt các đơn vị không có khả năng sinh lợi, phát triển các đơn vị kinh doanh mới kịp thời.
Tùy theo qui mô và phạm vi hoạt động, mà lựa chọn các cấp chiến lược phù hợp với nhu cầu thực tế. Trong đó, chiến lược chung mang tính tổng quát, giống như một cái khung để cấp dưới lựa chọn các chiến lược cụ thể, phù hợp với cấp bậc quản trị của mình. Phân loại căn cứ vào việc tiếp cận đối với thị trường: - Nhóm 1: Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt. Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược kinh doanh ở đây là không dàn trải các nguồn lực mà cần 8 tập trung cho những hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhóm 2: Chiến lược kinh doanh dựa trên ưu thế tương đối. Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược kinh doanh ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh, thông qua sự phân tích đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình để xây dựng chiến lược kinh doanh. Ưu thế tương đối có thể biểu hiện bằng nhiều mặt như: Chất lượng hoặc giá bán sản phẩm, dịch vụ; hoặc công nghệ sản xuất, mạng lưới tiêu thụ… - Nhóm 3: Chiến lược kinh doanh tạo tấn công, việc xây dựng được tiếp cận theo cách trực tiếp và luôn nhìn thẳng vào những vấn đề được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt câu hỏi tại sao, nhằm xét lại những điều tưởng như đã được kết luận. Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi, có thể có những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình.
- Nhóm 4: Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng.