CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIEN CUA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về chiến lược phát triển của doanh nghiệp 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong lịch sử loài người, khái niệm chiến lược đã được hình thành và nhắc đến từ thời Hy Lạp cô đại, xuất phát từ khái niệm “strategos” được hiểu là vai trò của người thủ lĩnh trong quân đội. Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh” nói đến các tâm lý và hành động của các vị tướng chỉ huy trong quân đội, dùng để chỉ kỹ năng điều khiển quân lính để chiến thắng đối phương và giành thăng lợi cho quân đội mình.
Trải qua quá trình lịch sử, cùng với sự phát triển và tích lũy tri thức, khái niệm chiến lược được đúc kết và đề cập trên nhiều góc độ khác nhau bởi các học giả, nhà lý luận quân sự như: Tôn Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonewall Jackson. Trong đó, phải kế đến nhà chiến lược phương Tây - Carl von Clausewitz (1832), trong cuốn sách “Ban về chiến tranh” đã định nghĩa chiến lược giống như là phương pháp để giao đấu và giành thăng lợi trong cuộc chiến. Như vậy, ở giai đoạn ban đầu, khái niệm chiến lược được coi như một nghệ thuật của việc chỉ huy quân sự. Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển đa dạng của xã hội, tại Châu Âu, khái niệm chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” ra đời; sau đó tiếp tục phát triển mở rộng sang các lĩnh vực khác trong quản lý xã hội và chính sách quốc gia.
Năm 1962, Alfred Chandler, người khởi xướng và phát triển về quản lý chiến lược đã định nghĩa “Chiến lược bao gầm những định hướng và mục tiêu dai hạn cơ bản của tô chức và dua ra phương an hành động và sự phân bô các nguồn lực cần thiết để đạt được những định hướng, mục tiêu đó ”. Theo cách định nghĩa này, chiến lược là một quá trình với nội dung xác định mục tiêu và đảm bảo các nguồn lực cũng như những chính sách chủ yếu cần được tuân theo khi sử dụng các nguồn lực này dé đạt được mục tiêu. Bên cạnh những cách hiểu theo quan điểm truyền thống, còn xuất hiện khái niệm chiến lược theo quan điểm cạnh tranh, đại diện cho trường phái này là Michael E. Porter (1980) với bộ ba tác phẩm: Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Các tác phẩm tập trung nhấn mạnh sự khác biệt giữa khái niệm chiến và khái niệm hoạt động hiệu quả Những năm cuối thế kỷ XX, tiếp tục xuất hiện những khái niệm về chiến lược theo quan điểm hiện đại mà Henry Mintzberg là đại diện tiêu biểu. Theo nghiên cứu của ông, khái niệm chiến lược được khái quát bao gồm 5 yếu tố (5P) là: Kế hoạch (Plan) - chuỗi các hành động đã dự định; Phương thức hành động (Pattern); VỊ thế (Position) - định vị một tô chức trong môi trường của nó; Triển vọng (Perspective) - xác định mong muốn phát triển từ bên trong tổ chức; Thủ thuật (Ploy) - cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. Kenichi Ohmae (2013) trong cuốn “Tư duy của chiến lược gia”, NXB Lao động Xã hội, đã xác định mục tiêu của chiến lược là đem lại những điều thuận lợi cho bản thân, tức là chọn đúng nơi dé đánh, chon dung thoi diém dé tiến công hay rút lui, đánh giá và tái đánh giá khi tình huống thay đổi. Như vậy, phân tích quá trình tư duy biến một vấn đề phức tạp thành nhiều phần nhỏ hơn đề hiểu hơn về nó, là bước khởi đầu cốt lõi của tư duy chiến lược.
Trong quá trình phát triển của lịch sử, nội dung về quản trị chiến lược cũng là một van đề được rất nhiều nhà quản trị gia, nhà kinh tế học quan tâm, nghiên cứu. Với nội dung về phạm vi nghiên cứu rộng và thực tế triển khai đa dạng nên ở mỗi mặt đánh giá, phân tích lại có các định nghĩa, quan điểm khác nhau về quản trị chiến lược. Một số công trình nghiên cứu phổ biến được biết đên như sau: Đầu tiên phải kê đến định nghĩa của Frederick W. Gluck (1980), trong cuốn “Strategic Management for Competitive Advantage” đã đưa ra các đánh giá và mô tả qua trình triển khai việc lập chiến lược đối với một tổ chức, doanh nghiệp.
Mục đích của việc lập chiến lược là huy động toàn bộ nguồn lực dé xây dựng ưu thế cạnh tranh và để lập kế hoạch chiến lược cần trả lời bốn câu hỏi cơ ban: (i) Doanh nghiệp dang ở đâu? (ii) Doanh nghiệp muốn đi đến đâu trong thời gian tới? (iii) Lam thé nào dé đến đạt được mục tiêu? (iv) Phương pháp nao dé đánh giá kết quả của sự phát triển? Năm 2008, trong cuốn “Basic Guide to Program Evaluation”, Carter McNamara đã phân tích về cách thiết lập kế hoạch thực hiện hay chương trình hành động của chiến lược. Theo tác giả, kế hoạch thực thi thường bao gom các mục tiêu cụ thé. Vì vậy, dé đạt được mục tiêu chiến lược thường phải thực hiện hàng loạt các mục tiêu thành phần, theo đó các mục tiêu thành phần thực tế vẫn là mục tiêu chiến lược nhưng có quy mô nhỏ hơn. David (2006) trong “Khái luận về quản trị chiến lược” cho rằng: Quản trị chiến lược bản chất là cách mà doanh nghiệp tô chức thực hiện chiến lược gồm: Phân tích hiện trang; Dua ra quyết định để triển khai chiến lược; Đánh giá kết quả thực hiện; Thay đổi hoặc bổ sung thêm các nội dung chiến lược khi cần thiết.
Các công trình nghién cứu trong nước Trong một vài thập kỷ trở lại đây, đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy, quan niệm và cách tiếp cận về hoạch định chiến lược phát triển một doanh nghiệp. Theo tác giả Hoàng Văn Hải (2015), chiến lược phát triển là hệ thống các quyết định nhằm tao ra thay đổi bên trong và xác định tương lai doanh nghiệp. Với cách hiểu này, chiến lược phát triển được sử dụng theo ba mục tiêu sau: (1) Xác định mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp; (ii) Đề xuất các chương trình thực hiện tổng thé; (iii) Lựa chon cách thức thực hiện và phân bô các lực lượng triên khai. Năm 2009, tác giả Lê Thế Giới trong cuốn “Quản trị chiến lược” đã có thực hiện so sánh chiến lược quân sự va chiến lược kinh tế.
Cu thé, ở lĩnh vực quân sự, chiến lược dùng dé chỉ kỹ năng quản trị nhằm khai thác các lực lượng và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Trong hoạt động kinh tế, khái niệm “trận địa” được hiểu là môi trường diễn ra sự cạnh tranh kinh doanh. Tuy vậy chiến lược kinh doanh có sự đa dạng, phức tạp hơn so với chiến lược quân sự. Sự cạnh tranh trong kinh doanh sẽ ra tạo cơ hội để doanh nghiệp thay đôi các kỹ năng, sức mạnh của mình như những mam mống cạnh tranh.
Trong cuốn sách “Quản lý công” do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014, tác giả Phan Huy Đường đã nghiên cứu và đánh giá rằng có bà thành phan quan trọng nhất tạo nên chiến lược, cụ thé là: (i) Các quan điểm tạo của chiến lược; (ii) Các mục tiêu của chiến lược; (iii) Các giải pháp thực thi chiến lược. Cùng về chủ đề này, cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chiến lược phát triển của doanh nghiệp như: Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2011) với nội dung “Đánh giá và đề xuất chiến lược phát triển của Tập đoản Hòa Phát giai đoạn 2007-2012”; luận văn đã nêu được những nội dung lý luận cơ bản về chiến lược phát triển và quản trị chiến lược, đánh giá thực trạng triển khai chiến lược, đánh giá đề xuất chiến lược phát triển của Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn 2007 - 2012. Trong luận văn tốt nghiệp thạc sỹ: “Hoàn thiện chiến lược phát triển của Tổng công ty VINACONEX giai đoạn 2011 - 2015”, tác giả Nguyễn Viết Hiệu (2009) cũng nêu được những lý thuyết cơ bản về chiến lược và quản trị chiến lược của doanh nghiệp, thực hiện phân tích đánh giá việc thực hiện chiến lược của Tổng công ty VINACONEX những năm 2009 - 2010, đề xuất các giải pháp dé xây dựng chiến lược phát triển cho Tổng công ty VINACONEX trong giai đoạn năm 2011 đến năm 2015 và luận văn này có tác dụng thực tiễn đối với nhiều doanh nghiệp xây dựng có quy mô tương tự VINACONEX. Theo tác giả Nguyễn Hữu Ngọc nhận định trong bài viết “Chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn - vấn đề và giải pháp” đăng tải trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân số tháng 3/2017; với đặc thù các doanh nghiệp quân đội tham gia làm kinh tế, vừa có chức năng của một doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp vừa tham gia xây dựng các công trình, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, an ninh do Bộ Quốc phòng giao; trong giai đoạn hiện nay khi điều kiện kinh tế Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng đã làm cho cạnh tranh trên thị trường xây dựng ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp xây dựng quân đội có thê thất bại ngay trên sân nhà nếu không kịp thời điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp.
Yêu cầu về năng suất, chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm xây dựng hơn bao giờ hết đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng quân đội phải có những bước đột phá, phải chủ động xây dựng chiến lược phát triển cho giai đoạn tiếp theo theo hướng bảo đảm phù hợp với định hướng, mục tiêu của doanh nghiệp về tầm nhìn và sứ mệnh; phù hợp với các điều kiện, môi trường kinh doanh, đảm bảo khoa học, hiệu quả cao trong SXKD và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Cùng với đó, tại Việt Nam, các vấn đề về quản tri chiến lược vẫn còn khá mới mẻ nhưng cũng được nhiều nhà kinh tế, nhà quản trị quan tâm nghiên cứu khá chỉ tiết các khái niệm, khía cạnh xoay quanh nội dung này. Theo cuốn “Quản trị chiến lược” của tác giả Lê Thị Bích Ngọc (2007) thì quản trị chiến lược bao gồm các hoạt động xây dựng, tô chức thực hiện và điều chỉnh chiến lược được thực hiện lặp lại thường xuyên nhăm đảm bảo doanh nghiệp luôn năm bắt được các thời cơ, cơ hội cũng như phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ, thách thức trong quá trình thực hiện mục tiêu của mình.