Chương I: Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô thế giới Chương II: Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô của Thái Lan Chương III: Bài học kinh nghiệm cho chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam Do còn nhiều hạn chế và kiến thức, trình độ cũng như thời gian nghiên cứu còn ngắn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô. Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tời các thầy cô tại trường đại học Ngoại Thương đã luôn ủng hộ và giúp đỡ, đặc biệt là TS. Vũ Huyền Phương đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành tốt khóa luận này.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ THẾ GIỚI 1.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển 1.1 Giai đoạn trƣớc năm 1900 Theo Từ điển Bách khoa Britannica năm 2015, Nicolas Joseph Cugnot, một kỹ sư cơ khí trong quân đội Pháp vẫn được coi là người đầu tiên chế tạo ra xe cơ giới. Động cơ đốt trong ra đời vào năm 1807 bởi Francois Isaac de Rivaz, bằng việc kết hợp hỗn hợp khí hydro và oxi trong nhiên liệu đốt. Sau đó vào năm 1824, kỹ sư người Anh tên là Samuel Brown đã chế tạo động cơ đốt bằng ga, tuy nhiên nó chỉ chạy được trên hành trình rất ngắn. Tính khả thi của xe ô tô thời kỳ này còn thấp do xe vẫn còn nặng nề, chậm vì động cơ cồng kềnh và đắt đỏ.
Thành công chỉ đến sự ra đời của chiếc xe do Gottlied Daimler và Wilhelm Mayback sản xuất tại Đức năm 1889 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử ngành ôtô thế giới, chiếc xe này được trang bị động cơ xăng 1,5 sức ngựa, hai xi lanh hộp số 4 tốc độ, và tốc độ tối đa 10 dặm một giờ. Năm 1890, một công ty ở Pháp tên là Panhard & Levassor do Edouard Sarazin quản lý đã lần đầu sản xuất ra ô tô cùng với nhiều sự thay đổi lớn vẫn còn được sử dụng đến ngày nay như : hệ thống động cơ cùng với bộ phận làm mát được di chuyển lên trước xe, bộ phận pê-đan hình răng cưa, bộ phận dây xích truyền tải từ hộp số và sử dụng bánh sau để tạo lực đẩy chính nhằm tăng khả năng thăng bằng và điều chỉnh hướng cho xa chạy tốt hơn.2 Giai đoạn sau năm 1900 đến năm 1945 Chiếc xe thương mại đầu tiên mang tên 1901 Curved Dash Oldsmobile do Ransome Eli Olds sản xuất tại Mỹ. Olds trở thành nhà sản xuất ôtô đầu tiên có thể tiến tới sản xuất hàng loạt. Mỗi chiếc Olds chỉ có 650 đôla, với dòng xe 425 Curved Dash Olds, hãng này đã dẫn đầu trong các nhà sản xuất ô tô tại Mỹ năm 1904 đạt sản lượng là 5.508 xe (Eric Forner và Jodn A.
Nền công nghiệp ô tô thực sự bước sang trang mới với sự xuất hiện của Henry Ford. Tháng 6 năm 1896, ông thiết kế chiếc xe đầu tiên tên là Quadricyle. Tuy nhiên thành công chỉ thực sự đến vào năm 1903 sau khi thành lập Ford Motor Company. Henry Ford đã có những bước đột phá trong việc tạo ra xe giá rẻ cho đại 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT bộ phận dân chúng.
Năm 1908, Ford giới thiệu mẫu xe nổi tiếng Model T, đóng góp to lớn của Henry Ford trong thời kỳ này là việc cải tiến dây chuyển sản xuất thành hệ thống băng chuyền vào năm 1913 tại Michigan. Hệ thống đã làm giảm mạnh giá thành sản xuất xe cũng như giảm thời gian lắp ráp. Tiếp theo sự thành công của Ford là sự ra đời của General Motors (GM) vào năm 1908 bởi William C. Vào năm 1925, Chrysler Corporation cũng được thành lập, sau khi mua lại công ty Dodge Brothers vào năm 1928, Chrysler nổi lên trở thành hãng sản xuất xe giá rẻ với dòng xe Plymouth.
Cùng với Ford và GM, Chrysler trở thành 3 nhà sản xuất xe chiếm hơn 75% thị phần trên nước Mỹ (Từ điển bách khoa toàn thư Britannica). Trong thời kỳ từ năm 1919 đến năm 1939, nền công nghiệp ô tô ở châu Âu cũng có những bước tiến mạnh mẽ, cũng theo dòng chảy của nền công nghiệp ô tô của Mỹ, nhưng với mức độ và quy mô nhỏ hơn vì những nguyên nhân sau: mức tiêu dùng của người dân thấp hơn, thị trường ở mỗi quốc gia nhỏ hơn và nhiều rảo cản về thuế cũng như về chính sách. Một số hãng nổi tiếng như Austin, Morris, Singer ở Anh; Peugoet, Renault ở Pháp, Volkswagen ở Đức. Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, sự phát triển của ngành ô tô đã được áp dụng lần đầu trong quân sự.
Tuy nhiên nó cũng chỉ dành được sự quan tâm rất ý của các nước tham chiến kể cả Mỹ nơi có sự phát triển mạnh mẽ. Chỉ đến khi thế chiến thứ 2, các nước mới thận sự chú trọng vào vấn đề này chủ yếu là các cường quốc thời đó là Anh, Pháp, Mỹ, Đức. Từ năm 1940-1045, ngành công nghiệp ô tô trong quân sự đã đạt quy mô khổng lồ gần 29 tỷ đôla Mỹ, với 2,6 triệu xe tải quân sự, 660. Các hãng xe tư nhân cũng tham gia vào việc chế tạo trang thiết bị phục vụ quân sự.
Có thể nói, ngành công nghiệp ô tô thế giới đã được đầu tư mạnh mẽ nhờ sự chạy đua vũ trang của các cường quốc tham chiến.3 Giai đoạn sau năm 1945 Sau chiến tranh thế giới thứ 2, ngành công nghiệp ô tô của Mỹ không những không bị ảnh hưởng gì mà còn được hưởng lợi. Nhiều hãng sản xuất được thành lập nhưng đều không thể cạnh tranh được với các “ông lớn” trên thị trường hiện tại,. Do giữa các công ty nhỏ này có xu hướng sát nhập lại với nhau để tồn tại như sự ra đời 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT của American Motors Corporation (AMC) là ví dụ. Sau những năm 1980, nhiều đối thủ cạnh tranh là các hãng ở Châu Âu và Nhật Bản xuất hiện trên đất Mỹ làm giảm thị phần của các nhà sản xuất nội địa.
Nhiều công ty Nhật đã mua lại nhiều nhà máy của Mỹ nhằm tấn công vào thị trường này. Đối với các nước châu Âu phải đối mặt với nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh vì vậy nhiều nước đã có chủ trương xuất khẩu ô tô để tạo động lực khôi phục nền kinh tế của mình. Nước Anh đi đầu với chính sách hạn chế tiêu thụ trong nước đồng thời dỡ bỏ nhiều loại thuế. Giai đoạn này chứng kiến sự sáp nhập cũng như mua lại giữa các nhà sản xuất lớn tại châu Âu.
Giai đoạn sau thế chiến thứ 2 thực sự là thời kỳ phát triển thần kỳ của nền công nghiệp ô tô Nhật Bản. Xuất phát từ số không vào năm 1950, sau 30 năm Nhật đã trở thành nhà sản xuất dẫn đầu thế giới. Những tên tuổi tiên phong phải kể đến là Toyota, Nissan, Honda và Toyo Kogyo (sau này là Mazda) đã tấn công vào thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu vào những năm 70 và 80. Nước láng giềng bên cạnh Nhật Bản là Hàn Quốc tuy có xuất phát muộn hơn nhưng cũng đã tạo dựng nền công nghiệp ô tô đáng nể, có vị trí quan trọng trong thị trường quốc tế (theo Britannica) 1.2 Những đặc điểm cơ bản của ngành sản xuất ô tô 1.1 Vốn đầu tư rất lớn Đây là ngành có vốn đầu tư cao hơn rất nhiều so với ngành khác.
Theo hãng Toyota, họ cần đến hơn 30.000 chi tiết cũng như bộ phận khác nhau để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe, mỗi bộ phận lại được sản xuất với công nghệ khác nhau cho từng dòng xe khác nhau nên vốn đầu tư cho việc sản xuất thường rất cao. Ngay cả những nhà sản xuất nổi tiếng trên thế giới như Ford cũng cần hơn 50.000 nhà cung cấp (UN Global Compact Offic, 2008). Điều này đẩy mạnh chi phí lắp đặt dây chuyền cũng như giá thành. Do vậy các nhà sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới chính là những tập đoàn có giá trị tài sản lớn trên thế giới như General Motor, Ford, Toyota, Daimler Chrysler và Volkswagen.
Ngành công nghiệp ô tô toàn cầu đã đạt 1.184,6 tỷ đôla Mỹ (Marketwire, 2011) vào năm 2010 nếu so với GDP toàn cầu vào 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT năm 2010 là 63.048,8 tỷ đôla Mỹ (World Bank, 2011) thì có thể thấy mức độ của ngành công nghiệp ô tô. Thêm vào đó, do việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên chi phí ban đầu cho xây dựng nhà xưởng, trang thiết bị, đào tạo công nhân,. cùng các chi phí thường xuyên như mua nguyên vật liệu, bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc hàng hóa cùng với chi phí R&D chiếm một phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư. Do vậy, các nhà sản xuất thường tính toán rất kỹ khi đầu tư vào một dây chuyền công nghệ mới.2 Khả năng thu hồi vốn chậm Không giống như các ngành dịch vụ với nguồn vốn lưu động lớn, tốc độ quay vòng nhay do vậy dễ thu hồi vốn.
ngành công nghiệp ô tô với những đặc trưng của một ngành cơ khí chế tạo có lượng vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn, thu hồi chậm. Hơn nữa tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật là rất nhanh nên khả năng lạc hậu là rất cao. Do vậy đây cũng là lý do cho việc thu hồi vốn chậm, nguy hiểm hơn nữa là không thu hồi được vốn. Tuy tiềm tàng nhiều rủi ro nhưng đây cũng là ngành có khả năng đạt được lợi nhuận cực lớn.
Việc tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong từng khâu sản xuất, kể cả các linh kiện nhỏ đã khiến cho ngành công nghiệp ô tô có sức hút mãnh liệt đối với bất kỳ quốc gia nào. Chỉ những chi tiết và phụ tùng nhỏ cũng có giá trị lớn gần bằng chiếc xe máy. Khả năng sinh lời đã đem lại nguồn lợi nhuận siêu ngạch cho công ty. Ví dụ như năm 2011, General Motor đã đạt mức doanh thu là 150.3 tỷ USD (General Motor, 2012) và có mặt trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với doanh thu vượt GDP của nhiều nước.
Chính vì thế đã có rất nhiều hãng sản xuất ô tô ra đời trên thế giới, cũng như nhiều quốc gia đã có coi ô tô là ngành công nghiệp mũi nhọn, tập trung phát triển.2 Công nghệ kỹ thuật Đây là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại. Một sản phẩm ô tô là sự kết hợp của hàng nghìn chi tiết các loại theo 1 dây chuyền tự động hóa cao.