Chương I: Tổng quan về dịch vụ logistics và nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba. Chương II: Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Vietfracht. Chương III: Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập. Sau đây là toàn bộ nội dung khoá luận tốt nghiệp của em.
Đỗ Thị Ngọc Trang 2 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS BÊN THỨ BA I. Tổng quan về logistics 1. Khái niệm logistics Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả các ngôn ngữ khác. Bởi nó bao hàm nghĩa của từ quá rộng nên không một đơn ngữ nào có thể truyền tải hết ý nghĩa của nó.
Khi xét về mặt lịch sử, thuật ngữ “logistics” là một thuật ngữ đã có từ lâu, thuật ngữ này lần đầu tiên được dùng trong quân đội mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận”. Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ về logistics hay hệ thống logistics. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều nghiên cứu về logistics trong các giai đoạn phát triển đó, dưới các góc nhìn khác nhau, hiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics: Theo “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A. Fifth Edition, Oxford University Press, 1995”: Logistics là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó (Logistics - the organization of supplies and services for any complex operation).
Theo Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics Management CLM in the USA), Logistics được định nghĩa là “quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả và tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và việc lưu trữ nguyên liệu thô, hàng trong kho đang sử dụng, hàng Đỗ Thị Ngọc Trang 3 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 thành phẩm và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ cho tới nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng". Trong cuốn “An Intergrated Approach to Logistics Management” của Viện kĩ thuật công nghệ Florida - Mỹ, thì Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu trữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp, của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp. Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (theo Logistics and Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime University, 1999). Theo quan điểm “5 right” thì : Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm.
Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy dù có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng nội dung đều cho thấy rằng Logistics là quá trình tối ƣu hoá về địa điểm và thời điểm, tối ƣu hoá việc lƣu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Logistics không chỉ bị hạn chế trong vận hành sản xuất, logistics liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, trường học, cửa hàng bán lẻ, ngân hàng, và các cơ quan cung cấp dịch vụ tài chính khác. Việc quản trị logistics sẽ thiết lập một khung làm việc cho các hoạt động logistics trong suốt quá trình lập kế hoạch, thực hiện và quản lý. Đầu ra của hệ thống logistics chính là lợi thế cạnh tranh, các lợi ích về thời gian, địa điểm, các Đỗ Thị Ngọc Trang 4 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 chuyển động hiệu quả về hướng khách hàng, và đầu ra của logistics cung cấp dịch vụ logistics hỗn hợp, trở thành một tài sản độc quyền của công ty.
Phân loại hệ thống logistics 2. Theo hình thức tổ chức hoạt động logistics Logistics bên thứ nhất (1PL - Frist Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ của logistics (vận tải, kho bãi, thanh toán,. ) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa có tích hợp hoạt động logistics.
Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, do đó 3PL tích hợp các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin, trong dây chuyền cung ứng. Logistics bên thứ tư (4PL - Fourth Party Logistics): là người tích hợp (Integrator), chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải, 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Logistics bên thứ năm (5PL - Fifth Party Logistics): 5PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các Đỗ Thị Ngọc Trang 5 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 3PL và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử. Theo toàn bộ quá trình logistics Logistics đầu vào (Inbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,.) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
Logistics đầu ra (Outbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Logistics ngược (Reverse Logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý. Theo đối tượng hàng hóa Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG Logistics) là quá trình logistics cho ngành tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như quần áo, giầy dép, thực phẩm. Logistics ngành ôtô (Automotive Logistics): là quá trình logistics phục vụ ngành ô tô.
Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics): là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm,. Logistics hàng điện tử (Electronic Logistics). Logistics ngành dầu khí (Petroleum Logistics). Vai trò của logistics 3.
Đối với nền kinh tế Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Ở góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối Đỗ Thị Ngọc Trang 6 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 hàng hóa. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng họat động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương.
Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng. Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp cho thỏa mãn nhu cầu của mỗi người.
Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế. Thị trường các doanh nghiệp hướng tới không còn nằm trong phạm vi biên giới các quốc gia mà đã lan rộng ra khắp toàn cầu. Vì thế, logistics càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ. Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên trường quốc tế.
Theo nghiên cứu của Limao và Venables (2001) cho thấy sự khác biệt trong kết cấu cơ sở hạ tầng chiếm 40% trong sự chênh lệch chi phí đối với các nước tiếp giáp biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp biển. Hơn nữa, trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Quốc gia nào có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống cảng biển tốt,. sẽ thu hút được đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới.
Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là một minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng Đỗ Thị Ngọc Trang 7 Anh 4 – K43A - KT&KDQT Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại Thương 2008 trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics. Đối với các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,.
logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, môi trường kinh doanh, tốt nhất và thế là logistics toàn cầu hình thành và phát triển.