CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY ĐẦU TƯ, XÂY LẮP VÀ VLXD ĐÔNG ANH 1. Một số khái niệm và lý thuyết cơ bản 1. Năng lực Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Hoàng Việt – Nguyễn Hoàng Long trong giáo trình “Quản trị chiến lược”, nhà xuất bản trường Đại học Thương Mại thì: Năng lực là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình riêng có của mỗi tổ chức.
Năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả mong muốn. Dưới sự tác động qua lại của các nguồn lực vô hình và hữu hình sẽ làm xuất hiện năng lực của tổ chức. Năng lực của tổ chức dựa vào sự phát triển, thu thập, trao đổi thông tin và kiến thức của toàn bộ nguồn nhân lực trong tổ chức để hình thành nền tảng tri thức của doanh nghiệp. Những nền tảng tri thức này sẽ trở thành yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Đồng thời, nền tảng tri thức này chỉ được giữ vũng và trở nên có giá trị hơn thông qua quá trình học tập và thực hành liên tục của đội ngũ nhân lực trong doanh nghiệp. Nền tảng quan trọng nhất để tạo nên năng lực là trình độ, kỹ năng của nhân viên, cùng những kiến thức chuyên môn thiết thực của họ. Chính vì thế, giá trị của nguồn nhân lực trong việc phát triển và tận dụng các nguồn lực và năng lực hay năng lực cốt lõi là vô cùng to lớn. Năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân,…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh nhằm giành/ giữ được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế” thì năng lực cạnh tranh của Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Liên Lớp: K48A5 Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên thị trường mục tiêu xác định. Khái niệm năng lực cạnh tranh cũng được nhắc đến trong giáo trình “Quản trị chiến lược”, tác giả Nguyễn Kim Thanh, nhà xuất bản Thống Kê: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội tại của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được thể hiện bằng các tiêu chí công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong cùng một hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Tóm lại, năng lực cạnh tranh là những năng lực mà doanh nghiệp thực hiện đặc biệt tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép.
Phân loại năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh thị trường.Năng lực cạnh nguồn Năng lực cạnh tranh nguồn của một doanh nghiệp được thể hiện qua các yếu tố: vị thế tài chính, năng lực quản lý và lãnh đạo, năng lực nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, năng lực R&D và năng lực sản xuất – kinh doanh. Vị thế tài chính: Vị thế tài chính của doanh nghiệp có tầm quan trọng tối cao không chỉ đối với phát triển chiến lược công ty và doanh nghiệp mà còn đối với phát triển chiến lược marketing và vị thế cạnh tranh của nó. Khả năng nguồn tài chính mạnh cần được cân nhắc khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và việc phân tích này bao gồm các tham số: lợi nhuận, dòng tiền, tỷ lệ vốn vay, hiệu suất lợi tức cổ phần, các chỉ số sinh lợi, tỷ suất lợi nhuận,. Năng lực quản lý và lãnh đạo: Năng lực quản lý và lãnh đạo được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp.
Quyết định quản trị tốt Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Liên Lớp: K48A5 Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt phải đạt được một mức quyết định và khả năng định hướng đúng vào các vấn đề chất lượng và khả năng định hướng đúng vào các vấn đề chất lượng và tính sinh lợi cho sản phẩm. Đồng thời, nhà quản trị phải có khả năng thúc đẩy và truyền cảm, giữ các thành viên hành động theo định hướng đúng bất chấp những trở ngại và thay đổi, bằng việc khơi dậy những nhu cầu giá trị và cảm hứng cho thành viên. Năng lực lãnh đạo phải được đánh giá trên cơ sở những thay đổi trong nghiên cứu môi trường bên ngoài kỳ vọng đối với doanh nghiệp trong tương lai. Những thách thức lớn thì tầm quan trọng của sự lãnh đạo hữu hiệu càng lớn.
Năng lực nguồn nhân lực: Sự cân nhắc về trình độ lực lượng lao động và năng suất công việc, những yêu cầu về kĩ năng, đào tạo, các kế hoạch tuyển dụng ảnh hướng của tổ chức công đoàn, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ nhân sự, điều kiện làm việc và tinh thần của lực lượng lao động kể cả việc đánh giá văn hóa doanh nghiệp. Năng lực R&D: R&D hữu hiệu cho phép doanh nghiệp có được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế vượt trối trong giới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến và cập nhật liên tục các sản phẩm hiện hữu. Một doanh nghiệp có thể sẽ bị tụt hậu năng lực cạnh tranh trong ngành kinh doanh bởi yếu kém R&D. Năng lực sản xuất – kinh doanh: Năng lực sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá gia các tiêu chí quy mô của doanh nghiệp, mức năng suất lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.Năng lực cạnh tranh thị trường Năng lực cạnh tranh thị trường là những năng lực căn bản để vừa sáng tạo những giá trị gia tăng cho khách hàng cao hơn, vừa tạo ra sự khác biệt rõ nét với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các yếu tố sau: Tổ chức marketing, hệ thống marketing, hoạch định chiến lược marketing, các chương trình marketing hỗn hợp, hoạt động kiểm tra marketing và hiệu suất hoạt động marketing. Tổ chức marketing: tổ chức thực hiện các hoạt động marketing. Chuyển các chiến lược và chương trình marketing thành những hoạt động marketing trên thực tế nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra có hiệu quả cao. Hệ thống thông tin marketing: giúp doanh nghiệp nhận được các tin tức thị trường có liên quan đến thị trường vĩ mô và môi trường ngành, giúp doanh nghiệp cập Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Liên Lớp: K48A5 Khóa luận tốt nghiệp 9 GVHD: PGS.TS Nguyễn Hoàng Việt nhật thông tin kịp thời và chính xác về nhu cầu và hành vi của khách hàng cũng như hành vi của đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh đặc biệt quan trọng thể hiện doanh nghiệp có nhạy với các sự kiện, xu thế trên thị trường mục tiêu của mình đối với đối thủ cạnh tranh hay không Hoạch định chiến lược marketing: Cung cấp cho các đơn vị kinh doanh khả năng triển khai và thực thi các chiến lược có tính đón đầu hữu hiệu không. Đây là tác nhân quan trọng quyết định tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên cơ sở nhận dạng các kẽ hở chiến lược và các nguồn tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các chương trình marketing hỗn, hợp: là quá trình thực hiện các chính sashc giá, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và các hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán của doanh nghiệp. Kiểm tra marketing: thực hiện việc kiểm tra, theo dõi nhằm đảm bảo các mục tiêu marketing sẽ được đáp ứng, thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện các vấn đề trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoạt động cho đúng hướng.
Hiệu suất hoạt động marketing: là việc doanh nghiệp thích ứng với các cơ hội và thách thức xuất hiện trên thị trường. Doanh nghiệp sẽ đáp ứng như thế nào đối với nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, doanh nghiệp có khả năng ứng nhạy bén như thế nào để đối phó với các chiến lược của đối thủ cạnh tranh và đạp ứng những mục tiêu doanh số, thị phần và lợi nhuận mà công ty đề ra. Một số lý thuyết cơ bản liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh ở góc độ vi mô được hiểu là vị thế mà một doanh nghiệp muốn đạt được so với các đối thủ cạnh tranh.
Vị thế này được thể hiện trên thị trường thông qua các yếu tố cạnh tranh như giá sản phẩm (chi phí) hay sự khác biệt hóa, hoặc đồng thời cả hai. Lợi thế cạnh tranh gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu không sở hữu một lợi thế cạnh tranh bền vững thì hiệu suất hoạt động trên mức trung bình thường được coi là một dấu hiệu của sự thành công của doanh nghiệp. Porter, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba lợi thế cạnh tranh bền vững là: - Chi phí thấp: Lợi thế về chi phí là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm/ dịch vụ tương tự với mức giá thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Liên Lớp: K48A5 Khóa luận tốt nghiệp 10 GVHD: PGS.