Tổng quan nghiên cứu
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã đạt những bước tăng trưởng vượt bậc với mức tăng bình quân 15,6%/năm, đạt mốc 6,13 tỷ USD vào năm 2012. Trong bức tranh chung đó, cá ngừ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực khi cán mốc 569 triệu USD năm 2012, đạt mức tăng trưởng ấn tượng 50,1% và giữ tỷ trọng then chốt tại ba thị trường trọng điểm gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản với hơn 72% tổng kim ngạch. Tỉnh Khánh Hòa đóng vai trò là cửa ngõ thủy sản của vùng Nam Trung Bộ, sở hữu trữ lượng cá biển ước tính 116 nghìn tấn cùng hệ thống hơn 44 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu chuẩn ngành. Tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của tỉnh trong giai đoạn 2010 đến tháng 08/2013 đạt hơn 405 triệu USD, đạt đỉnh 150,2 triệu USD vào năm 2011.
Tuy nhiên, bước sang năm 2013, ngành cá ngừ Khánh Hòa bắt đầu bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Trong 8 tháng đầu năm 2013, sản lượng xuất khẩu giảm 25% so với cùng kỳ, kim ngạch xuất sang thị trường Nhật Bản sụt giảm 18%. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nằm ở việc các doanh nghiệp thiếu chiến lược marketing xuất khẩu bài bản, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu thô, hoạt động nghiên cứu thị trường mang tính đối phó và thương hiệu chưa tạo được chỗ đứng vững chắc trước các rào cản kỹ thuật quốc tế.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động xuất khẩu và marketing mix của các doanh nghiệp cá ngừ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2008 – 2013. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống chiến lược marketing xuất khẩu giai đoạn 2013 – 2020 nhằm mở rộng thị phần, gia tăng giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu cho sản phẩm cá ngừ Khánh Hòa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết Marketing quốc tế và Marketing xuất khẩu của Philip R. Cateora và John L. Graham (1999), xác định marketing xuất khẩu là quá trình hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối hàng hóa thích ứng với môi trường nước ngoài nhằm tạo ra lợi nhuận bền vững. Khung phân tích tập trung vào mô hình Marketing-Mix 4P quốc tế bao gồm: Chiến lược sản phẩm và thương hiệu, Chiến lược định giá quốc tế, Chiến lược kênh phân phối nước ngoài và Phối thức xúc tiến xuất khẩu.
Bên cạnh đó, đề tài tích hợp mô hình phân tích môi trường vĩ mô quốc tế (kinh tế, chính trị - luật pháp, văn hóa - xã hội, công nghệ) cùng ma trận SWOT để đánh giá năng lực cạnh tranh ngành cá ngừ. Ba khái niệm nền tảng được làm rõ xuyên suốt nghiên cứu gồm: Rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT/SPS), Điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) và Phương thức thâm nhập thị trường quốc tế (xuất khẩu trực tiếp so với xuất khẩu gián tiếp).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú:
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 13 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa (gồm 01 doanh nghiệp nhà nước và 12 doanh nghiệp ngoài nhà nước). Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu tổng thể (toàn bộ quần thể doanh nghiệp mục tiêu) nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối, loại bỏ sai số chọn mẫu ngẫu nhiên và phản ánh chính xác 100% thực trạng ngành tại địa phương.
- Quy trình thu thập dữ liệu: Giai đoạn định tính tiến hành thảo luận nhóm tập trung với đại diện phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và phòng marketing của 03 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ lớn. Kết quả thảo luận được sử dụng để hiệu chỉnh bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc. Giai đoạn định lượng thực hiện phát phiếu điều tra chi tiết đến 13 doanh nghiệp.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê giai đoạn 2008 – 2013 từ VASEP, Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa, Tổng cục Thống kê và các báo cáo thị trường của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC).
- Phương pháp phân tích: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh tỷ trọng và tổng hợp ma trận SWOT. Timeline nghiên cứu đánh giá dữ liệu giai đoạn 2008 – 2013 và định hình chiến lược thực thi cho giai đoạn 2013 – 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực chứng tại 13 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ tỉnh Khánh Hòa đã chỉ ra những điểm nghẽn lớn trong chuỗi hoạt động marketing xuất khẩu:
Thứ nhất, công tác nghiên cứu thị trường còn mang tính bị động và thiếu đầu tư. Có tới 84,62% doanh nghiệp tự thực hiện nghiên cứu nội bộ, trong khi chỉ 7,69% thuê công ty chuyên nghiệp. Đáng chú ý, 69,23% doanh nghiệp chỉ tiến hành tìm hiểu khi có nhu cầu phát sinh đột xuất, chỉ có 7,69% duy trì định kỳ hàng quý. Ngân sách dành cho nghiên cứu thị trường rất hạn hẹp khi 61,54% doanh nghiệp chi dưới 1% doanh thu xuất khẩu, chỉ 7,69% đầu tư từ 3% đến 5%. Về nội dung, 100% tập trung vào giá cả và nhu cầu tiêu thụ, nhưng chỉ có 46% doanh nghiệp quan tâm nghiên cứu đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Các dữ liệu này được mô tả rõ nét qua hệ thống biểu đồ cơ cấu ngân sách và tần suất nghiên cứu thị trường trong báo cáo.
Thứ hai, cơ cấu sản phẩm còn nghèo nàn và mức độ nhận diện thương hiệu thấp. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực vẫn là hàng sơ chế đông lạnh thô gồm cá ngừ nguyên con đông lạnh (chiếm 77% số doanh nghiệp), thăn cá ngừ đông lạnh (54%) và cá ngừ cắt lát (54%). Doanh thu từ cá ngừ chiếm tỷ trọng rất cao, với 69,23% doanh nghiệp ghi nhận cá ngừ đóng góp từ 50% đến 80% tổng doanh thu. Về thương hiệu, có đến 38% doanh nghiệp thừa nhận thương hiệu của mình chưa được biết đến tại thị trường nhập khẩu, 46% mới ở mức được nhà nhập khẩu chấp nhận và chỉ có 15% thương hiệu được khách hàng tiêu dùng cuối cùng nhận biết.
Thứ ba, sự phân hóa rõ rệt trong việc vượt rào cản kỹ thuật. Doanh nghiệp đáp ứng tốt quy định ghi nhãn xuất xứ (100%), bảo vệ nguồn lợi môi trường (92%), GlobalGAP (85%), ISO 9001 (77%) và HACCP (69%). Tuy nhiên, các tiêu chuẩn khắt khe về trách nhiệm xã hội và tiêu chuẩn chuyên sâu của các thị trường khó tính lại rất thấp: tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản JAS chỉ đạt 46%, thực hành sản xuất tốt GMP đạt 38% và tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 chỉ vỏn vẹn 8% doanh nghiệp đạt được.
Thứ tư, phương thức phân phối và điều kiện giao hàng tồn tại nhiều rủi ro. 77% doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào kênh xuất khẩu gián tiếp, chịu áp lực ép giá từ trung gian thương mại (62%) và không tiếp cận được người mua cuối cùng (38%). Đáng báo động là 46% doanh nghiệp hoàn toàn chưa chuẩn bị chiến lược xuất khẩu trực tiếp. Về điều kiện thương mại, 100% doanh nghiệp xuất khẩu theo nhóm F (chủ yếu là FOB), chỉ 31% thực hiện nhóm C (CIF, CFR). Lý do chính khiến doanh nghiệp né tránh nhóm C là nguồn cung nguyên liệu không ổn định (85%), thiếu ưu thế bảo hiểm (54%) và bất lợi về vận tải biển quốc tế (46%).
Thảo luận kết quả
Thực trạng suy giảm 25% sản lượng cá ngừ xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2013 và việc giá cá ngừ câu tay sụt giảm chỉ còn 50.000 đồng/kg (bằng 1/3 mức giá cùng kỳ) phản ánh trực tiếp sự lạc hậu trong công nghệ bảo quản và chuỗi liên kết lỏng lẻo. Toàn tỉnh có hơn 1.000 tàu cá công suất trên 90 CV nhưng hầu hết là tàu vỏ gỗ, khoang lạnh bảo quản bằng đá cây truyền thống không bảo đảm dải nhiệt độ âm sâu, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cá thịt khi cập cảng.
Khi đối chiếu với bài học kinh nghiệm từ tỉnh Phú Yên, sự khác biệt trở nên rõ ràng. Doanh nghiệp Phú Yên đã chủ động đăng ký thành công nhãn hiệu tập thể "Cá ngừ đại dương Phú Yên" từ năm 2009 và thành lập liên doanh chiến lược với đối tác Rakuichi (Nhật Bản), qua đó được hỗ trợ 02 tàu đông lạnh hiện đại và bảo đảm bao tiêu sản phẩm ở mức giá cao từ 12 đến 20 USD/kg. Trong khi đó, các doanh nghiệp Khánh Hòa vẫn đơn độc vận hành, đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ hơn 92,31% đối thủ trên thị trường toàn cầu mà thiếu đi một nhãn hiệu tập thể bảo hộ và liên minh logistics quy mô.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên phân tích SWOT và thực trạng doanh nghiệp, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược marketing xuất khẩu cho giai đoạn 2013 – 2020 được đề xuất cụ thể:
- Xây dựng và định vị thương hiệu tập thể: Hiệp hội Cá ngừ Khánh Hòa phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàn tất thủ tục cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Cá ngừ Khánh Hòa" trong giai đoạn 2013 – 2015. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhận biết thương hiệu từ 15% lên 50% vào năm 2020. Doanh nghiệp cần chủ động hoàn thiện hồ sơ cấp chứng nhận nhãn an toàn cá heo (Dolphin Safe) theo chuẩn của Tổ chức Earth Island Institute (EII) để mở rộng thị phần tại Hoa Kỳ.
- Nâng cấp chiến lược sản phẩm và công nghệ chế biến: Doanh nghiệp chế biến tái cấu trúc danh mục sản phẩm theo hướng giảm tỷ trọng cá ngừ nguyên con thô từ 77% xuống dưới 40%, tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu giá trị gia tăng như cá ngừ đóng hộp, thăn cá ngừ hun khói, cắt khối saku đạt trên 60% vào năm 2018. Đầu tư nâng cấp hệ thống kho lạnh đạt chuẩn âm 60 độ C và phấn đấu 100% doanh nghiệp đạt chứng nhận tiêu chuẩn HACCP, JAS và SA 8000.
- Đổi mới chiến lược giá và chuyển dịch điều kiện Incoterms: Doanh nghiệp xuất khẩu từng bước chuyển dịch cơ cấu giao hàng từ FOB (nhóm F) sang CIF/CFR (nhóm C), nâng tỷ lệ áp dụng nhóm C từ 31% lên 65% vào năm 2020 nhằm thu hút thặng dư từ dịch vụ bảo hiểm và cước tàu. Tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) để định giá cạnh tranh linh hoạt theo từng phân khúc.
- Phát triển kênh phân phối trực tiếp và xúc tiến thương mại quốc tế: Nâng mức đầu tư cho nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại lên 3% – 5% doanh thu xuất khẩu từ năm 2014. Từng bước thiết lập văn phòng đại diện hoặc liên doanh phân phối tại Hoa Kỳ và Nhật Bản để tăng tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp từ 8% lên 35% vào năm 2020. Tham gia đều đặn tối thiểu 02 hội chợ thủy sản quốc tế uy tín mỗi năm tại Boston (Seafood Expo North America) và Brussels (Seafood Expo Global).
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Ban lãnh đạo và bộ phận kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thủy sản: Nắm bắt bức tranh chi tiết về 13 chỉ số marketing thực chứng, cấu trúc chi phí Incoterms và giải pháp đàm phán thanh toán quốc tế bằng L/C, T/T để hạn chế rủi ro thương mại.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội ngành hàng (Sở NN&PTNT Khánh Hòa, VASEP): Sử dụng các số liệu về 9.724 tàu thuyền và 6 cảng cá làm căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch Đề án Trung tâm nghề cá lớn vùng Nam Trung Bộ đến năm 2020.
- Chuyên viên nghiên cứu thị trường và tư vấn chiến lược marketing quốc tế: Tham khảo khung mô hình đánh giá 4P kết hợp điều kiện Incoterms trong ngành hàng nông hải sản tươi sống và đông lạnh.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh doanh Thương mại, Kinh tế Quốc tế: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát toàn diện mẫu tổng thể doanh nghiệp và phân tích định lượng thực tế trong nghiên cứu học thuật.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng lớn nhất trong công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp cá ngừ Khánh Hòa là gì?
Có đến 69,23% doanh nghiệp chỉ thực hiện nghiên cứu thị trường khi phát sinh nhu cầu đột xuất và 61,54% doanh nghiệp dành ngân sách dưới 1% doanh thu. Việc thiếu dữ liệu về đối thủ cạnh tranh nước ngoài khiến doanh nghiệp thường xuyên bị động về giá và đánh mất các đơn hàng giá trị cao.
Tại sao 100% doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ tại tỉnh đều sử dụng điều kiện giao hàng nhóm F (FOB)?
Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thiếu ưu thế thương lượng với các hãng tàu biển quốc tế (46%), thiếu kinh nghiệm mua bảo hiểm hàng hải (54%) và nguồn nguyên liệu cá ngừ trong nước biến động thất thường (85%), buộc doanh nghiệp phải chọn bán FOB tại cảng đi để đẩy rủi ro vận chuyển cho nhà nhập khẩu.
Bài học quan trọng nhất mà Khánh Hòa có thể tiếp thu từ tỉnh Phú Yên là gì?
Đó là sự kết hợp giữa đăng ký nhãn hiệu tập thể được Cục Sở hữu Trí tuệ bảo hộ và mô hình liên doanh với đối tác quốc tế như tập đoàn Rakuichi của Nhật Bản. Mô hình này giúp hiện đại hóa tàu đông lạnh và cam kết giá thu mua ổn định từ 12 đến 20 USD/kg cho ngư dân.
Những tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nào đang là rào cản lớn nhất đối với cá ngừ Khánh Hòa?
Trong khi các chuẩn cơ bản như ghi nhãn xuất xứ đạt 100%, thì các tiêu chuẩn chất lượng cao cấp và trách nhiệm xã hội lại rất thấp: tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản JAS chỉ đạt 46%, chứng nhận thực hành sản xuất tốt GMP đạt 38% và tiêu chuẩn SA 8000 chỉ có 8% doanh nghiệp đáp ứng.
Giải pháp nào giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng bị ép giá khi xuất khẩu gián tiếp?
Doanh nghiệp cần nâng tỷ lệ ngân sách marketing lên 3% – 5% doanh thu, chủ động tham gia các hội chợ thủy sản quốc tế thường niên và liên kết các chủ tàu hình thành chuỗi cung ứng khép kín nhằm từng bước nâng tỷ trọng xuất khẩu trực tiếp lên 35% vào năm 2020.
Kết luận
- Luận văn đã khái quát toàn diện bức tranh xuất khẩu cá ngừ của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 – 2013 với tổng kim ngạch đạt hơn 405 triệu USD, đồng thời chỉ rõ nguyên nhân khiến sản lượng sụt giảm 25% trong năm 2013.
- Khảo sát thực chứng 100% tổng thể 13 doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ trên địa bàn đã phát hiện các điểm nghẽn cốt tử: 84,62% tự nghiên cứu thị trường, 77% xuất khẩu gián tiếp và 100% phụ thuộc vào điều kiện giao hàng FOB.
- Đề tài đóng góp khung giải pháp chiến lược Marketing-Mix 4P đồng bộ, đặt trọng tâm vào việc đăng ký nhãn hiệu tập thể "Cá ngừ Khánh Hòa", nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu lên 60% và chuyển dịch sang điều kiện CIF.
- Lộ trình triển khai giai đoạn 2013 – 2020 xác lập các mốc thời gian rõ ràng cho doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý nhằm xây dựng Khánh Hòa thành trung tâm nghề cá hiện đại của vùng Nam Trung Bộ.
- Các doanh nghiệp thủy sản và nhà quản lý cần khẩn trương phối hợp ứng dụng ngay các khuyến nghị từ nghiên cứu để bảo vệ thương hiệu, vượt qua rào cản kỹ thuật và giữ vững vị thế của cá ngừ Việt Nam trên trường quốc tế.