đặt vấn đề công ty hoặc các SBU của nó phải cạnh tranh hoặc hợp tác ra sao trong một ngành kinh doanh cụ thể [Thomas Wheelen, 2000] Về loại hình, CLKD có thể bao gồm các chiến lược tích hợp về phía trước và phía sau, đa dạng hóa, thu hoạch nhanh, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm sản lượng, tiết chế đầu tư, rút khỏi thị trường, cổ phần hóa…[Fred David, 2001]. Với khái niệm đa diện như trên, việc hình thành và phát triển CLKD chính là đường nét mới của quản trị doanh nghiệp nước ta trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, là nội dung và thực chất của quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, bởi như Ph.Kotler đã viết: “Thực chất của quản trị doanh nghiệp là quản trị CLKD của nó”. [10] Theo luận điểm của Derek F. Abell’s về quá trình ra quyết định, để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải bao gồm ba yếu tố, đó là: (1) nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thoả mãn (What), (2) các nhóm khách hàng hay ai được thoả mãn (Who), và (3) các khả năng khác biệt hóa hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thoả mãn (How).
Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một 16 công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngành. [1] Như vậy CLKD của các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh phân bón có thể được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược cho sản phẩm phân bón nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trên thị trường xác định và đạt được mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Các loại hình chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp “CLKD còn được gọi là chiến lược cạnh tranh hay đơn giản là chiến lược định vị, được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế Chiến lược “strategic position” nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của công ty” [Alan Rowe 1993]. Có ba chiến lược cạnh tranh cơ bản đó là: Chiến lược dẫn đầu về chi phí, khác biệt hóa sản phẩm và tập trung.
Các chiến lược này là các chiến lược cơ bản của tất cả các doanh nghiệp hoặc các ngành. Mỗi một trong ba chiến lược cạnh tranh cơ bản này là kết quả các sự lựa chọn nhất quán của công ty về sản phẩm, thị trường và các khả năng riêng biệt – các sự lựa chọn đó củng cố lẫn nhau.1 tóm tắt các sự lựa chọn thích hợp cho m ỗi chiến lược chung của công ty.1: Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh và các chiến lược cạnh tranh cơ bản Khác biệt hóa Dẫn đầu về chi phí Tập trung sản phẩm Khác biệt hóa Thấp (chủ yếu bằng Cao (Chủ yếu bằng tính Thấp đến cao (Giá sản phẩm giá) độc nhất) hoặc tính độc nhất) Phân đoạn thị Thấp (Thị trường Cao (Nhiều đoạn thị Thấp (Một hoặc một trường đại trà) trường) số đoạn thị trường) Khả năng riêng Sản xuất và quản lý Nghiên cứu và phát triển, Bất kỳ loại khả năng biệt nguyên liệu bán và marketing riêng biệt nào Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược – PGS.TS Ngô Kim Thanh Chiến lược dẫn đầu về chi phí Mục đích của công ty trong việc theo đuổi sự dẫn đầu về chi phí hoặc chiến lược chi phí thấp là hoạt động tốt hơn (có lợi thế hơn) các đối thủ cạnh tranh khác bằng việc làm mọi thứ có thể sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ ở chi phí thấp hơn các đối thủ. Chiến lược này có hai lợi thế cơ bản. Thứ nhất, vì chi phí thấp hơn nên 17 người dẫn đầu về chi phí có thể đặt giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh của mình mà vẫn thu được lợi nhuận bằng của các đối thủ.
Thứ hai, nếu sự cạnh tranh trong ngành tăng và các công ty bắt đầu cạnh tranh bằng giữ thì người dẫn đầu và chi phí sẽ có khả năng đứng vững trong cạnh tranh tốt hơn các công ty khác vì chi phí thấp hơn của mình. Chiến lược khác biệt hóa Mục đích của chiến lược khác biệt hóa là để đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm – hàng hóa hoặc dịch vụ - mà được người tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét của họ. Khả năng một công ty khác biệt hóa sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng theo cách mà các đối thủ cạnh tranh không thể có, nghĩa là nó có thể đặt giá cao hơn – giá cao hơn đáng kể so với mức trung bình của ngành. Khả năng tăng doanh thu bằng cách đặt giá cao (chứ không phải bằng giảm chi phí như người dẫn đầu về chi phí) cho phép người khác biệt hóa sản phẩm haotj động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh của mình và nhận được lợi nhuận cao hơn mức trung bình, và khách hàng trả giá đó vì họ tin tưởng chất lượng của các sản phẩm đã được khác biệt hóa tương ứng với chênh lệch giá đó.
Chiến lược tập trung hay trọng tâm hóa Công ty theo đuổi chiến lược trọng tâm hóa chú trọng vào việc phục vụ một nhóm hữu hạn người tiêu dùng hoặc đoạn thị trường. Các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh phân bón tùy thuộc vào quy mô, năng lực tài chính và lợi thế cạnh tranh của mình có thể lựa chọn một trong các CLKD trên để tạo vị thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình trên một đoạn thị trường cụ thể, đoạn đó có thể được xác định theo tiêu thức địa lý, loại khách hàng, hoặc một nhánh của dòng sản phẩm. Một khi đã chọn đoạn thị trường công ty có thể theo đuổi chiến lược tập trung thông qua khác biệt hóa sản phẩm hoặc chi phí thấp. Về bản chất, công ty tập trung là một nhà khác biệt hóa sản phẩm hoặc nhà dẫn đầu về chi phí chuyên môn hóa.
18 Một đặc điểm nữa là công ty tập trung cạnh tranh với người khác biệt hóa sản phẩm chỉ trong một hoặc một số ít đoạn thị trường. Các công ty theo đuổi chiến lược tập trung chắc chắn phát triển chất lượng sản phẩm khác biệt hóa thành công vì họ có kiến thức chỉ về một tập hợp nhỏ khác hàng hoặc kiến thức về khu vực. Hơn nữa, việc tập trung vào những chuỗi nhỏ sản phẩm đôi khi cho phép người tập trung đưa ra sự đổi mới nhanh hơn là công ty khác biệt hóa lớn. Tuy nhiên, người tập trung không cố gắng phục vụ tất cả các đoạn thị trường vì làm như thế sẽ đưa nó đến sự cạnh tranh trực tiếp với nhà dị biệt hóa.
Thay vào đó, côgn ty tập trung chú trọng vào việc thiết lập thị phần trong một đoạn thị trường và nếu thành công thì có thể bắt đầu phục vụ nhiều đoạn thị trường hơn và làm mất đi lợi thế cạnh tranh của người khác biệt hóa. Nội dung hoàn thiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh phân bón 1. Khái niệm và phân loại phân bón nông nghiệp 1. Khái niệm phân bón Cây trồng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển.
Nếu như con người và động vật chủ yếu sống bằng thức ăn từ nguồn hữu cơ (từ sản phẩm của động vật hoặc thực vật) thì cây trồng hầu như chỉ sống được bằng chất vô cơ. Cây trồng sinh trưởng và phát triển là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và carbonic dưới tác động của ánh sáng mặt trời. Như vậy có thể đưa ra khái niệm chung về phân bón: Phân bón là thức ăn của cây trồng, thiếu phân cây không thể sinh trưởng và cho năng suất, phẩm chất cao. Phân bón có vai trò rất quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất, bảo vệ cây trồng và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
Phân loại phân bón a. Phân loại theo thành phần: gồm phân bón vô cơ, phân bón hỗn hợp, phân hữu cơ sinh học vật. 19 Phân bón vô cơ: gồm phân khoáng thiên nhiên hoặc phân hoá học, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ. Bao gồm các loại: phân khoáng đơn, phân phức hợp, phân khoáng trộn.
- Phân khoáng đơn: là loại trong thành phần chỉ chứa một yếu tố dinh dưỡng đa lượng N hoặc P2O5 hữu hiệu hoặc K2O hữu hiệu. - Phân phức hợp: là loại phân được tạo ra bằng phản ứng hoá học, có chứa ít nhất hai (02) yếu tố dinh dưỡng đa lượng. - Phân khoáng trộn: là loại phân được sản xuất bằng cách trộn cơ học từ hai hoặc ba loại phân khoáng đơn hoặc trộn với phân phức hợp, không dùng phản ứng hoá học. Phân hỗn hợp: là loại phân bón trong thành phần có chứa từ hai (02) yếu tố dinh dưỡng khác nhau (vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật, các yếu tố dinh dưỡng khác) trở lên, bao gồm các loại phân hữu cơ chế biến công nghiệp, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh - Phân hữu cơ chế biến công nghiệp: là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, được chế biến theo quy trình công nghệ lên men công nghiệp, có hàm lượng chất hữu cơ, ký hiệu là HC (tính bằng HC tổng số) và các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Phân hữu cơ sinh học: là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, được xử lý lên men bằng vi sinh vật sống có ích hoặc được xử lý bằng các tác nhân sinh học khác có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. - Phân hữu cơ khoáng: là loại phân bón được sản xuất từ phân hữu cơ chế biến công nghiệp hoặc hữu cơ sinh học trộn thêm một hoặc một số yếu tố dinh dưỡng vô cơ, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng vô cơ đa lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. - Phân hữu cơ vi sinh: là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có chứa ít nhất một loại vi sinh vật sống có ích có mật độ và hoạt tính đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. 20 Phân vi sinh vật: là loại phân bón trong thành phần có chứa một hoặc nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác có mật độ và hoạt tính đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.