CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lược chức năng khác. Chiến lược kinh doanh – liên quan tới việc làm thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới.
Cho đến hiện nay, có rất nhiều những khái niệm khác nhau về chiến lược kinh doanh tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau : Theo Fred R.David: “Chiến lược kinh doanh là một khoa học nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”., “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn, nhằm dành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”. Chiến lược kinh doanh chính là phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Đó là cách chớp thời cơ, huy động nguồn lực để thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng, đồng thời tiếp tục phát triển nguồn lực doanh nghiệp cho tương lai, đạt vị trí cạnh tranh cao. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm xây dựng chiến lược: Theo nhà nghiên cứu lịch sử quản lý Afred D.Chandler: “Xây dựng chiến lược là việc xác định những định hướng và mục tiêu dài hạn cơ bản của tổ chức và đưa ra phương án hành động và sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những định hướng, mục tiêu đó”.
Nguyễn Thị Liên Diệp, ThS. Phạm Văn Nam, 2006, Chiến lược và chính sách kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội, Tp.) Theo các tác giả Garry D.Arold và Bobby R.Bizzel: “Xây dựng chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai”. Dù theo khái niệm nào đi nữa thì nhìn chung xây dựng chiến lược chính là quá trình thiết lập chiến lược một cách có hệ thống, ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Xây dựng chiến lược nhằm đưa ra các phân tích định hướng có xu hướng dài hạn.
Quá trình xây dựng chiến lược sẽ được xem xét trên tổng thể doanh nghiệp hoặc trên mỗi bộ phận quan trọng bên trong doanh nghiệp. Các loại chiến lược kinh doanh Tùy theo tiêu thức phân loại, người ta có thể chia chiến lược kinh doanh thành nhiều loại.1 Nhóm chiến lược về tăng trưởng Nhóm chiến lược kinh doanh này nhằm tăng thêm mức độ hoạt động của doanh nghiệp về số lượng và chất lượng. Chiến lược này được sử dụng khi trong kinh doanh có những thách thức mới hoặc có sự xuất hiện của những đối thủ mới nào đó trong cạnh tranh. Nhóm này có hai chiến lược chính: Chiến lược tăng trưởng tập trung: Đây là loại chiến lược trên cơ sở các dịch vụ hoặc thị trường hiện có sẽ thực hiện việc cải tiến hoặc mở rộng thêm mà không làm thay đổi bất kỳ yếu tố nào.
Có thể kể ra như sau: - Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. - Chiến lược phát triển thị trường: đưa các sản phẩm hiện có vào các khu vực mới. - Chiến lược phát triển sản phẩm: tăng doanh số bằng việc cải tiến hoặc sửa đổi các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có. Chiến lược tăng trưởng mở rộng: Đây là loại chiến lược đặt trọng tâm vào việc đưa thêm các dịch vụ tài chính mới để tạo thêm thị trường mới hay mở rộng các lĩnh vực phi tài chính khác.
Chiến lược này đòi hỏi phải mở rộng qui mô nguồn lực, kiến thức về nhiều lĩnh vực ngành nghề khác. - Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: nhằm thêm vào các dịch vụ mới để tạo ra thị trường mới xoay quanh các nhu cầu về tài chính (như các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực chứng khóan, các dịch vụ tài chính phái sinh,…) - Chiến lược đa dạng theo khối: phát triển kinh doanh sang các lĩnh vực mới khác không liên quan đến các nhu cầu về tài chính như dịch vụ du lịch, vận chuyển hàng hóa. Chiến lược sáp nhập: Tiến hành hợp nhất với một doanh nghiệp khác tạo thành doanh nghiệp mới về tên gọi, phát hành cổ phiếu mới, cơ cấu tổ chức mới và nhiều thay đổi khác. Chiến lược mua lại: Doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác bằng cách mua lại cổ phần để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp đó nhưng vẫn giữ tên gọi và cơ cấu tổ chức như cũ hoặc mua lại các công ty tài chính, chứng khóan hay tín thác để bổ sung thêm vào danh mục dịch vụ mới.
Các đơn vị được mua lại là chi nhánh hay công ty thành viên của doanh nghiệp. Chiến lược liên doanh: Chiến lược này diễn ra khi hai hay nhiều doanh nghiệp hợp lực để thực thi một vấn đề mà một doanh nghiệp riêng lẻ không làm được. Có nhiều hình thức để tiến hành liên doanh: liên doanh quốc tế để vượt qua rào cản chính trị và văn hóa để có thể hợp pháp cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cho vay đồng tài trợ là phổ biến. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Nhóm chiến lược thu hẹp hoạt động Đây là nhóm chiến lược nhằm giảm mức độ hoạt động của doanh nghiệp, được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế đang bị khủng hoảng, suy thóai hoặc môi trường hoạt động kinh doanh biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho doanh nghiệp hoặc trước đây doanh nghiệp đã áp dụng chiến lược phát triển nhưng không mang lại hiệu quả, một số lĩnh vực kinh doanh thua lỗ.
Cắt giảm chi phí: nhằm sắp xếp lại hoạt động kinh doanh cho hiệu quả hơn khi một số bộ phận nào đó có năng suất kém làm cho chi phí quá cao hoặc do những khó khăn tạm thời liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh. Cắt giảm một số lĩnh vực kinh doanh: áp dụng khi doanh nghiệp muốn thu hồi vốn đầu tư ở những bộ phận kinh doanh không còn sinh lời hay muốn tập trung vốn cho một số hoạt động, lĩnh vực hay các trung tâm đang sinh lời cao, có triển vọng lâu dài, doanh nghiệp sẽ nhượng bán hoặc đóng cửa một số cơ sở kinh doanh trực thuộc. Chiến lược thu hoạch: là việc tìm cách tối đa hóa đồng tiền thu về vì mục đích trước mắt, bất chấp hậu quả sau này. Chẳng hạn, tập trung thu hồi các khoản nợ vay, ngưng huy động vốn và cho vay, bán các tài sản của doanh nghiệp để tận thu nguồn vốn đến cùng.
Chiến lược giải thể: đây là chiến lược bắt buộc cuối cùng, ngưng toàn bộ hoạt động kinh doanh, chi trả lại tiền gửi cho công chúng và các khoản nợ để chấp nhận sự thất bại hoàn toàn.3 Nhóm chiến lược ổn định hoạt động Nhóm chiến lược này không tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động của doanh nghiệp, chiến lược này được xây dựng để củng cố những nguồn lực mà doanh nghiệp đang có, tạo nền tảng để doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh.4 Nhóm chiến lược phối hợp Đây là nhóm chiến lược phổ biến nhất hiện nay nhằm thực hiện nhiều chiến lược kể trên cùng một lúc ở các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp hoặc sử dụng chúng trong những thời gian khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các bước xây dựng chiến lược kinh doanh Xây dựng (hoạch định) chiến lược kinh doanh là giai đoạn đầu trong quá trình quản trị chiến lược. Xây dựng chiến lược kinh doanh là quá trình thiết lập sứ mệnh kinh doanh, thực hiện điều tra nghiên cứu môi trường bên trong để xác định các mặt mạnh, mặt yếu; nghiên cứu môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và nguy cơ, từ đó, đề ra các mục tiêu dài hạn, xây dựng và chọn lựa các chiến lược thay thế.
Quy trình xây dựng chiến lược của một doanh nghiệp bao gồm 4 bước: xác định nhiệm vụ kinh doanh; phân tích môi trường bên ngoài; phân tích tình hình nội bộ; phân tích và lựa chọn chiến lược. Mỗi bước sẽ bao gồm các công việc chủ yếu như sau: 1. Xác định sứ mạng và mục tiêu kinh doanh Peter Drucker cho rằng việc đặt câu hỏi: “Công việc kinh doanh của chúng ta là gì?” đồng nghĩa với câu hỏi: “Sứ mạng (nhiệm vụ) của chúng ta là gì?”. Bảng sứ mạng kinh doanh nhằm tuyên bố lý do tồn tại của một tổ chức doanh nghiệp.
Đây là cơ sở quan trọng để thiết lập mục tiêu kinh doanh và quản trị các chiến lược có hiệu quả. Mục tiêu kinh doanh là những kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp muốn đạt tới. Mặc dù những mục tiêu xuất phát từ sứ mạng, chúng phải được riêng biệt và cụ thể hơn. Có hai loại mục tiêu: dài hạn và ngắn hạn.
Mục tiêu dài hạn cho thấy những kết quả mong muốn trong một thời gian dài. Nó thường thiết lập cho những vấn đề: khả năng kiếm lời, năng suất, vị trí kinh doanh, phát triển nhân viên, quan hệ nhân viên, trách nhiệm xã hội…Mục tiêu ngắn hạn là biệt lập và đưa ra những kết quả nhằm đạt tới một cách chi tiết. Chúng là những kết quả riêng biệt mà doanh nghiệp có ý định phát sinh trong vòng chu kỳ quyết định kế tiếp. Phân tích các yếu tố bên ngoài Tất cả các doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài.
Có thể chia các yếu tố này thành 5 loại chính: (1) Môi trường kinh tế; (2) Văn hóa, xã hội, địa lý, nhân khẩu; (3) Luật pháp, chính phủ và chính trị; (4) Công nghệ; (5) Môi trường cạnh tranh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.