phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực thi chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chiến lƣợc kinh doanh ở Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện thực thi chiến lƣợc kinh doanh ở Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội giai đoạn 2015-2017. 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và vai trò của chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp * Chiến lƣợc kinh doanh là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hƣớng mục tiêu để các nguồn lực của doanh nghiệp đáp ứng đƣợc những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Nhƣ vậy, theo định nghĩa này thì điểm đầu tiên của chiến lƣợc kinh doanh có liên quan tới các mục tiêu của Doanh nghiệp. Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm.
Có điều những chiến lƣợc kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng Doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định, xây dụng và quyết định chiến lƣợc kinh doanh hƣớng mục tiêu là chƣa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lƣợc cần đƣa ra những hành động hƣớng mục tiêu cụ thể, hay còn gọi là cách thức làm thế nào để đạt đƣợc mục tiêu đó. Điểm thứ hai là chiến lƣợc kinh doanh không phải là những hành động riêng lẻ, đơn giản. Điều đó sẽ không dẫn tới một kết quả to lớn nào cho Doanh nghiệp.
Chiến lƣợc kinh doanh phải là tập hợp các hành động và quyết định hành động liên quan chặt chẽ với nhau, nó cho phép liên kết và phối hợp các nguồn lực tập trung giải quyết một vấn đề cụ thể của Doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Điểm thứ ba là chiến lƣợc kinh doanh cần phải đánh giá đúng đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của mình kết hợp với những thời cơ và thách thức từ môi trƣờng. Điều đó sẽ giúp cho các nhà quản trị của Doanh nghiệp tìm đƣợc nhƣng ƣu thế cạnh tranh và khai thác dƣợc những cơ hội nhằm đƣa Doanh nghiệp chiếm đƣợc vị thế chắc chắn trên thị trƣờng trƣớc những đối thủ cạnh tranh. 7 z Điểm cuối cùng là chiến lƣợc kinh doanh phải tính đến lợi ích lâu dài và đƣợc xây dựng theo từng giai đoạn mà tại đó chiến lƣợc đòi hỏi sự nỗ lực của các nguồn lực là khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu của mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ.
Do vậy các nhà quản trị phải xây dựng thật chính xác và chi tiết từng nhiệm vụ của chiến lƣợc ở từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt cần quan tâm tới các biến số dễ thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Bởi nó là nhân tố ảnh hƣởng rất lớn tới mục tiêu của chiến lƣợc ở từng giai đoạn. Phân loại chiến lược kinh doanh Xét theo quy mô và chức năng lao động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp mà nhà quản trị có thể lựa chọn ba chiến lƣợc cơ bản sau: 1.
Chiến lược công ty Đây là chiến lƣợc cấp cao nhất của tổ chức hoặc doanh nghiệp có liên quan đến các vấn đề lớn, có tính chất dài hạn và quyết định tƣơng lai hoạt động của doanh nghiệp. Thƣờng thì chiến lƣợc công ty chịu ảnh hƣởng rất lớn bởi sự biến động rất lớn của cơ cấu ngành kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó ảnh hƣởng không nhỏ tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó dẫn tới một hệ quả là doanh nghiệp có tiếp tục theo đuổi hoạt động trong lĩnh vực đó hay không? hay doanh nghiệp nên tham gia vào lĩnh vực khác mà tại đó lợi nhuận nói riêng hay các mục tiêu nào đó dễ dàng đạt đƣợc và đạt đƣợc với hiệu quả cao hơn.
Và tƣơng lai của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào quyết định đó. Điều tất nhiên là chiến lƣợc công ty đƣợc thiết kế, xây dựng, lựa chọn và chịu trách nhiệm ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp nhƣ hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhà quản trị chiến lƣợc cấp cao. Chiến lược cạnh tranh Đây là chiến lƣợc cấp thấp hơn so với chiến lƣợc công ty. Mục đích chủ yếu của chiến lƣợc cạnh tranh là xem xét doanh nghiệp có nên tham gia hay tiến hành cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong một lĩnh vực cụ 8 z thể.
Nhiệm vụ chính của chiến lƣợc cạnh tranh là nghiên cứu những lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp đang có hoặc mong muốn có để vƣợt qua các đối thủ cạnh tranh nhằm giành một vị thế vững chắc trên thị trƣờng. Chiến lược chức năng Là chiến lƣợc cấp thấp nhất của một doanh nghiệp. Nó là tập hợp những quyết định và hành động hƣớng mục tiêu trong ngắn hạn (thƣờng dƣới 1 năm) của các bộ phận chức năng khác nhau trong một doanh nghiệp. Chiến lƣợc chức năng giữ một vai trò quan trọng bởi khi thực hiện chiến lƣợc này các nhà quản trị sẽ khai thác đƣợc những điểm mạnh của các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Điều đó là cơ sở để nghiên cứu xây dựng lên các ƣu thế cạnh tranh của doanh nghiệp hỗ trợ cho chiến lƣợc cạnh tranh. Thông thƣờng các bộ phận chức năng của doanh nghiệp nhƣ bộ phận nghiên cứu và triển khai thị trƣờng, kế hoạch vật tƣ, quản lý nhân lực, tài chính kế toán, sản xuất .sẽ xây dựng lên các chiến lƣợc của riêng mình và chịu trách nhiệm chính trƣớc hội đồng quản trị, ban giám đốc về các kết quả đạt đƣợc. Mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh với các chiến lược khác CẤP CÔNG TY Phân tích môi trƣờng Mối quan hệ ngƣợc Xác định chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu Phân tích và lựa CẤP chọn chiến lƣợc DOANH Thực hiện NGHIỆP Kiểm tra Phân tích môi trƣờng Mối quan hệ ngƣợc Xác định chức năng, nhiệm vụ , mục tiêu Phân tích và lựa CẤP BỘ chọn chiến lƣợc PHẬN Thực hiện Kiểm tra Phân tích môi trƣờng Mối quan hệ ngƣợc Xác định chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu Phân tích và lựa chọn chiến lƣợc Thực hiện Kiểm tra Hình 1.1: Mối quan hệ giữa chiến công ty, chiến lƣợc kinh doanh và chiến lƣợc chức năng Luồng thông tin giữa cấp công ty và cấp cơ sở kinh doanh (Hình 1.1) thƣờng xuất hiện sớm trong quy trình khi chuyên viên kế hoạch cấp công ty yêu cầu từng cơ sở cung cấp thông tin là cơ sở dữ liệu đầu vào cho quá trình lập kế hoạch. Sau đó các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ và chiến lƣợc đƣợc 10 z chuyển từ cấp công ty sang cấp cơ sở kinh doanh và cung cấp dữ liệu đầu vào cho việc lập kế hoạch ở cấp cơ sở kinh doanh.
Cuối cùng thông tin ngƣợc chiều (phản hồi) đƣợc chuyển lên cấp công ty. Chiến lƣợc cấp cơ sở kinh doanh dựa trên tổ hợp các chiến lƣợc khác nhau ở cấp bộ phận. Đối với nhiều công ty, chiến lƣợc Marketing là chiến lƣợc cốt lõi của chiến lƣợc cấp cơ sở kinh doanh, đóng vai trò liên kết cùng với các chiến lƣợc cấp chức năng khác, tuy nhiên đối với công ty khác thì vấn đề sản xuất hoặc nghiên cứu phát triển có thể là vấn đề nổi cộm trong chiến lƣợc cấp cơ sở kinh doanh. Mỗi chiến lƣợc cấp cơ sở cần tƣơng thích với chiến lƣợc cấp công ty và các chiến lƣợc cơ sở khác của công ty.
Ví dụ đối với Công ty Sữa Vinamilk chiến lƣợc về phát triển các dịch vụ mũi nhọn (nhƣ dịch vụ bán hàng, phục vụ và chăm sóc khách hàng ) cần phải nắm bắt đƣợc nhu cầu của thị trƣờng trong thời điểm hiện tại nhằm đạt đƣợc những mục tiêu cụ thể trong giai đoạn hội nhập và phát triển trong tƣơng lai. Hoặc là chiến lƣợc chức năng của bộ phận nhân sự về việc tuyển dụng ngƣời giỏi, trọng dụng và đãi ngộ ngƣời có tài, có tâm chắc hẳn sẽ liên quan đến chiến lƣợc phát triển mở rộng mạng lƣới kinh doanh. Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trƣớc hết chúng ta phải khẳng định rằng mọi hoạt động sản xuất kinh doanh phải hƣớng vào mục tiêu xác định. Mục tiêu đó sẽ là động lực chính thúc đẩy doanh nghiệp nỗ lực hành động để đạt đƣợc nó.
Thƣờng thì các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có những mục tiêu giống nhau là xâm nhập thị trƣờng, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần. Nếu nhƣ các mục tiêu này không đƣợc xác lập rõ ràng thì chẳng khác nào doanh nghiệp bƣớc trên cái cầu bấp bênh, có nguy cơ đổ sụp xuống trƣớc những biến động không ngừng của thị trƣờng. Do vậy yếu tố cần thiết nhất khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh 11 z là phải có mục tiêu rõ ràng. Nhƣng thực tế đặt ra rằng để xác định đƣợc mục tiêu thì cần phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu, đánh giá và phân tích các yếu tố nhƣ thị trƣờng, nhu cầu thị trƣờng, môi trƣờng kinh doanh, công nghệ để hình thành nên mục tiêu.
Đồng thời phải có các căn cứ về nguồn lực là cơ sở xây dựng mục tiêu. Để làm đƣợc điều này nhất thiết phải có chiến lƣợc kinh doanh. Nhƣ vậy chiến lƣợc kinh doanh có vai trò thứ nhất là xác lập có căn cứ, có cơ sở những mục tiêu cho Doanh nghiệp. Vai trò thứ hai của chiến lƣợc kinh doanh là cách thức phối hợp mọi nguồn lực tập trung vào giải quyết một mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp.
Tại sao chiến lƣợc kinh doanh lại làm đƣợc điều đó? Trƣớc hết ta phải xem xét cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp, về cơ cấu tổ chức, doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chức năng khác nhau nhƣ phòng tổ chức, phòng hành chính, phòng tài vụ, phòng kế hoạch vật tƣ, phòng marketing, mỗi phòng ban này sẽ đảm trách từng nhiệm vụ cụ thể mà chức năng của nó quy định. Do sự phân chia theo chức năng nhƣ vậy nên các bộ phận này hoạt động hoàn toàn độc lập và chịu sự quản lý của cấp cao hơn là ban giám đốc. Nếu chỉ hoạt động thông thƣờng một cách riêng lẻ thì hiệu quả hoạt động đem lại cho doanh nghiệp là không đáng kể vì các nguồn lực của bộ phận này là giới hạn. Vậy yêu cầu đặt ra là phải có một cách thức nào đó cho phép liên kết, phối hợp các nguồn lực riêng biệt này thành một nguồn lực tổng thể phục vụ cho mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Đó chính là chiến lƣợc kinh doanh.