CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Tổng quan về chiến lược và quản trị chiến lược: 1.1 Khái niệm chiến lược: Thuật ngữ “chiến lược” có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển qua các lĩnh vực khoa học khác như: chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường… cạnh tranh trên thương trường ngày càng khốc liệt và thương trường được ví dụ như chiến trường. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, chiến lược kinh doanh ngày càng được các doanh nghiệp chú trọng.
Từ chiến lược có nhiều nghĩa. Mỗi tác giả sử dụng nó theo một nghĩa riêng: - Chiến lược là mưu mẹo - Chiến lược là tập hợp các hành vi gắn bó với nhau theo thời gian. - Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp trong trong môi trường của nó. - Chiến lược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện nhận thức và đánh giá môi trường của doanh nghiệp.
Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Micheal Poter cho rằng: “ Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” Theo cách tiếp cận coi chiến lược cạnh tranh là một phạm trù khoa học quản lý, Alfred Chandler viết: “ Chiến lược kinh doanh là việc xách định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó” Theo cách tiếp cận kế hoạch hóa, James B Quinn cho rằng “ Chiến lược kinh doanh đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và chương trình hành động thành một thể thống nhất kế dính lại với nhau. Ngô Thị Hồng Thu – QTKD 2010 Page 15 Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty CP Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2011 - 2015 Theo William J Glueck: “ Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được thực hiện. Theo Munzeber: Chiến lược có thể được xem như là: - Kế hoạch tổng hợp dài hạn nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh (plan). - Âm mưu, thủ đoạn để đạt mục tiêu (ploy) - Là việc xác định vị thể của doanh nghiệp và tìm cách đoạt được vị thế đó (positioning).
- Là việc xây dựng các mô thức hoạt động để đạt được mục tiêu (pattern). - Là khát vọng tương lai và tìm cách để đạt được (perspective).2 Quản lý chiến lược: Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chiến lược mà ta có thể đề cập đến như sau: - Quản lý chiến lược là quá trình quản lý việc theo đuổi chức năng nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ tổ chức đó đối với môi trường của nó. - Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản lý quyết định sự thành công lâu dài của công ty. - Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Trong khuôn khổ luận văn này, ta dùng định nghĩa sau làm cơ sở: “ Quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai” (Nguồn :Garry D. Bizzell, “Chiến lược và Sách lược kinh doanh”, NXB Lao động – Xã hội, 2007) Ngô Thị Hồng Thu – QTKD 2010 Page 16 Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty CP Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2011 - 2015 Phân tích môi trường xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược thực hiện chiến lược đánh giá và kiểm tra chiến lược HÌNH 1.1: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC (Nguồn: Garry D. Bizzell, “Chiến lược và Sách lược kinh doanh”, NXB Lao động – Xã hội, 2007) Ý nghĩa của việc quản lý chiến lược: - Quá trình quản lý chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ được mục đích và hướng đi của mình. Nó khiến cho ta phải xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt được kết quả cụ thể nhất định.
Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp ta nắm vững được việc gì phải làm để đạt được thành công. - Môi trường kinh doanh luôn biến đổi nhanh và những biến đổi đó thường tạo ra các nguy cơ và cơ hội mới. Phương cách dùng quản lý chiến lược giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai. Quá trình quản trị chiến lược bắt buộc nhà quản lý phải phân tích và dự báo các điều Ngô Thị Hồng Thu – QTKD 2010 Page 17 Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty CP Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2011 - 2015 kiện trong tương lai gần và tương lai xa.
Nhờ thấy rõ điều kiện môi trường trong tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội và loại bỏ được các nguy cơ liên quan tới điều kiện môi trường - Nhờ có quản lý chiến lược, chúng ta sẽ gắn liền các quyết định đề ra với môi trường liên quan. Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi các điều kiện dự báo sao cho chúng ta có thể đạt được những mục tiêu đề ra. Quyết định thụ động tấn công là dự đoán các điều kiện môi trường trong tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối ưu hoá vị thế của mình trong môi trường đó bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và chuẩn bị tốt hơn để thực hiện các cơ hội. - Các công ty áp dụng quản lý chiến lược thì đạt được kết quả tốt hơn so với kết quả trước đó khi không áp dụng quản lý chiến lược và các công ty không áp dụng quản lý chiến lược, điều này có nghĩa là việc áp dụng quản lý chiến lược sẽ giảm bớt rủi ro gặp phải các vấn đề trầm trọng và tăng khả năng trong việc tranh thủ các cơ hội trong môi trường khi chúng xuất hiện.3 Hoạch định chiến lược: 1.
Định nghĩa hoạch định chiến lược: Hoạch định chiến lược kinh doanh: là một quá trình tư duy của nhà quản trị nhằm tạo lập chiến lược dựa trên các phân tích cơ bản. - Hình thành chiến lược dựa trên cạnh tranh nội bộ thì không phải là hoạch định chiến lược kinh doanh. - Phân tích và định hướng chiến lược phải có tính chất lâu dài. - Hoạch định chiến lược kinh doanh tiến hành toàn bộ công ty hoặc ít ra cũng là những bộ phận quan trọng nhất.
- Năng lực và trách nhiệm của hoạch định chiến lược thuộc về những nhà quản lý cao nhất của công ty. Ngô Thị Hồng Thu – QTKD 2010 Page 18 Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty CP Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2011 - 2015 - Hoạch định chiến lược là đảm bảo sự thực hiện lâu dài những mục đích và mục tiêu trọng yếu của doanh nghiệp. Ý nghĩa của hoạch định chiến lược: - Nhận thấy rõ mục đích hướng đi làm cơ sở cho mọi kế hoạch hành động cụ thể. Nhận biết được các cơ hội và nguy cơ trong tương lai, thích nghi, giảm thiểu sự tác động xấu từ môi trường, tận dụng những cơ hội của môi trường khi nó xuất hiện.
- Tạo ra thế chủ động tác động đến các môi trường, thậm chí thay đổi luật chơi trên thương trường, tránh tình trạng thụ động. - Phân phối một cách có hiệu quả về thời gian, nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau. - Khuyến khích doanh nghiệp hướng về tương lai, phát huy sự năng động sáng tạo, ngăn chặn những tư tưởng ngại thay đổi, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tăng cường tính tập thể. Tăng vị thế cạnh tranh, cải thiện các chỉ tiêu về doanh số, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh.4 Các cấp quản lý chiến lược: Quản lý chiến lược có thể tiến hành ở các cấp khác nhau trong một tổ chức: 1.
Chiến lược cấp công ty xác định nghành kinh doanh mà hãng đang hoặc sẽ phải tiến hành, mỗi ngành cần tiến hành như thế nào và nó có quan hệ với xã hội như thế nào? 2. Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh xác định từng cơ sở có thể hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình như thế nào trong lĩnh vực của mình 3. Chiến lược cấp bộ phận chức năng tập trung hỗ trơ cho chiến lược cấp công ty và chiến lược cấp cơ sở kinh doanh. Ngô Thị Hồng Thu – QTKD 2010 Page 19 Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty CP Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (PTSC M&C) giai đoạn 2011 - 2015 1.
Các bước của quá trình hoạch định chiến lược 1.1 Phân tích môi trường: Việc quản lý chiến lược tốt phụ thuộc vào sự am hiểu tường tận các điều kiện môi trường mà tổ chức đang phải đương đầu. Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng sâu rộng vì chúng ảnh hưởng đến toàn bộ các vước tiếp theo của quá trình quản lý chiến lược. Môi trường tổng quát mà tổ chức gặp phải có thể chia thành 3 mức độ: Môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp và môi trường bên trong. Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không nhất thiết phải theo một cách nhất định.
Môi trường tác nghiệp được xác định đối với mỗi ngành công nghiệp cụ thể. Và môi trường bên trong là tổng hợp các yếu tố bên trong công ty. Ba cấp độ môi trường này được thể hiện ở hình dưới. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 1.
Các yếu tố kinh tế 2. Các yếu tố chính trị, pháp luật 3. Các yếu tố văn hóa hóa xã hội 4. Các Các yếu tố tự nhiên 5.
Các yếu tố công nghệ MÔI TRƯỜNG NGÀNH 1. Các đối thủ cạnh tranh 4. Các đối thủ tiềm ẩn 2. Khách hàng 5.
Sản phẩm thay thế 3. Nhà cung cấp NỘI BỘ DOANH NGHIỆP 1.