Chương 1: Lý do chọn đề tài nghiên cứu. Xác định thực trạng công ty đang gặp phải và chọn đề tài chuyên cứu để đưa giải pháp đúng ứng dụng cho công ty. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Chương này sẽ trình bày tổng quan về các lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, qua đó sẽ cho thấy được khái quát những vấn đề cạnh tranh trong doanh nghiệp hiện nay.
Chương 3: Giới thiệu về công ty Jmatek và thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty. Giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của công ty Jmatek, sản phẩm chiến lược, thực trạng cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của công ty như thế nào, những vấn đề mà công ty đang tồn động cần cải thiện để tăng năng lực cạnh tranh so với đối thủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cùng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, nhận xét ưu nhược điểm, cơ hội và thách thức trong thời gian tới. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chiến lược cạnh tranh của Jmatek đến năm 2023. Những giải pháp giúp công ty hoàn thiện, thay đổi để tăng tính cạnh tranh trong thời gian 05 năm tới.
Và phần cuối cùng là kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH. Trong chương này, luận văn tập trung giới thiệu cơ sở lý thuyết chủ đạo về chiến lược cạnh tranh sẽ áp dụng cho đề tài nghiên cứu.
Đây là những nền tảng để phát triển những lập luận và phân tích cho đề tài. Nội dung chính bao gồm: các khái niệm về cạnh tranh, phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh, sự tương quan giữa chiến lược cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các khái niệm về cạnh tranh. Khái niệm về cạnh tranh.
Porter (1985) thì “cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải là tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ, để họ có thể lựa chọn cho mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh”.A Samuelson (1997) đã nói rằng “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để dành khách hàng hoặc thị trường”. Ở cấp độ doanh nghiệp cạnh tranh có thể được hiểu là sự tranh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một yếu tố sản xuất hay khách hàng bằng cách nổ lực nâng cao năng lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội cho doanh nghiệp nhằm đem lại những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn sản phẩm của công ty mình chớ không phải đối thủ cạnh tranh, từ đó doanh nghiệp tồn tại và nâng cao vị thế của mình trên thị trường để thu lợi. Các giá trị gia tăng vượt trội dưới cái nhìn khách hàng có thể được tạo ra thông qua một hoặc một số các yếu tố như: Chất lượng sản phẩm, chất lượng thời gian, chất lượng không gian, chất lượng dịch vụ, chất lượng thương hiệu, chất lượng giá cả.
Theo Từ Điển Bách Khoa định nghĩa “sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình”. Dù có những sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi nhưng các quan niệm trên cũng có những nét tương đồng về nội dung như: Thứ nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi một mục đích tối đa. Đối với doanh nghiệp thì dó là lợi nhuận tối đa, đối với người tiêu dùng thì đó là tối đa hóa mức độ thỏa mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm. Thứ hai, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể trong đó các bên tham gia đều phải tuân thủ ràng buộc chung như: đặc tính sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý.
Thứ ba, phương pháp cạnh tranh rất đa dạng như: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm. Như vậy có thể hiểu rằng: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích sau cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Khái niệm về chiến lược cạnh tranh.
Porter (1985) thì để làm rõ hơn khái niệm về chiến lược này như sau: Thứ nhất, dẫn đầu về chi phí, một nhà sản xuất có chi phí tối ưu vẫn phải có sản phẩm ngang cấp hoặc tương tự so với các đối thủ trên cơ sở khác biệt hóa để trở thành một đơn vị hoạt động trên trung bình, ngay cả khi họ đã có lợi thế cạnh tranh về chi phí. Sản phẩm ngang cấp, trên cơ sở khác biệt hóa, cho phép doanh nghiệp chuyển hóa trực tiếp những lợi thế về chi phí vào lợi nhuận cao hơn các đối thủ cạnh tranh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Sản phẩm tương tự trong khác biệt hóa đồng nghĩa với việc giảm giá cần thiết để chiếm lĩnh thị phần chấp nhận được sẽ không ảnh hưởng gì đến lợi thế sẵn có về chị phí và do đó, nhà sản xuất vẫn thu được lợi nhuận trên mức trung bình. Thứ hai, khác biệt hóa, Doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội để trở thành người duy nhất trong ngành.
Chiến lược này chọn lựa một hoặc vài thuộc tính của sản phẩm mà người mua đánh giá quan trọng, tiếp đó tự định vị mình là người duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu đó. Phương thức để thực hiện khác biệt hóa cũng rất riêng biệt trong từng ngành. Khác biệt hóa có thể dựa trên chính sản phẩm, hệ thống phân phối, phương pháp marketing hoặc là những yếu tố khác trên diện rộng. Doanh nghiệp khi có thể đạt được và duy trì sự khác biệt hóa sẽ là một đơn vị có hoạt động trên trung bình trong ngành nếu như mức giá bán của họ vượt qua các chi phí mà họ đã phải trả cho tính độc đáo của mình.
Vì vậy một đơn vị có sự khác biệt phải luôn tìm kiếm cách thức khác biệt hóa sao cho cách này sẽ đến một mức giá bán cao hơn chi phí cho quá trình khác biệt hóa đó. Thứ ba, tập trung, chiến lược này khá khác biệt so với các chiến lược trên vì nó được xây dựng trên cơ sở chọn lựa phạm vi cạnh tranh hẹp trong ngành, chỉ tập trung vào phân khúc này mà không quan tâm đến những mục tiêu khác. Bằng cách tối ưu hóa chiến lược nhằm vào các phân khúc mục tiêu, các đơn vị có chiến lược tập trung tìm kiếm và đạt được lợi thế cạnh tranh ngay trong phân khúc mục tiêu mặc dù nhìn chung họ không nắm giữ một lợi thế nào. Khái niệm về lợi thế cạnh tranh.
Khi nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế của một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có so với đối thủ cạnh tranh. Nghĩa là, lợi thế cạnh tranh là khái niệm vừa có tính vi mô (2), vừa có tính vĩ mô (3). David (2014), lợi thế cạnh tranh là quản trị chiến lược có mục tiêu tối thượng là giành được và duy trì lợi thế cạnh tranh, thuật ngữ này có nghĩa là bất cứ thứ gì một công ty có thể thực sự tốt so với các công ty đối thủ. Khi một doanh nghiệp (2)Tính vi mô là giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành của một quốc gia; (3) Tính vĩ mô là giữa các ngành trong cùng một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 có thể làm điều mà đối thủ cạnh tranh không thể làm hoặc sở hữu điều gì mà đối thủ mong muốn, đó có thể được xem là lợi thế cạnh tranh. Porter (1985), cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành. Chiến lược cạnh nhằm mục đích tạo lập một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành.
Có hai vấn đề trọng tâm làm nền tảng cho việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh. Thứ nhất, mức độ hấp dẫn của ngành để có thể mang lại lợi nhuận lâu dài và các yếu tố quyết định điều này. Thứ hai, vị thế tương đối của doanh nghiệp trong ngành. Định vị sẽ xác định khả năng thu lợi nhuận cao hơn hay thấp hơn mức trung bình của ngành.
Một doanh nghiệp có khả năng định vị tốt sẽ có thể thu lợi nhuận nhiều hơn ngay cả khi cấu trúc ngành bất lợi và do đó khả năng sinh lợi của ngành cũng khá khiêm tốn.1: Các lợi thế cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh của Porter. Phân tích môi trường bên ngoài. Trong phần này tác giả nghiên cứu về môi trường bên ngoài, bao gồm cả hai loại: Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. Nghiên cứu môi trường phải thường xuyên, liên tục và không bao giờ dừng lại, vì nó chính là điều kiện đảm bảo thành công của chiến lược.
Môi trường vĩ mô. Chính trị - pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 + Chính trị, chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư.