mở đầu cho một thời kỳ lạm phát nghiêm trọng, đã nhấn chìm nền kinh tế Mỹ" [59, tr. Do phải tập trung tiền của, lực lượng đổ vào cuộc chiến tranh Việt Nam nên "chương trình xã hội vĩ đại" mà Tổng thống Giôn-xơn đề ra khi tranh cử tống thống Mỹ đã không thể thực hiện được. Những cam kết đầu tư, chăm lo về giáo dục, y tế, việc làm. chỉ là "những câu nói trống rỗng".
Người dân Mỹ đã tự hỏi rằng tại sao nước Mỹ lại đổ người và của đi bảo vệ tự do cho một nước xa xôi bên kia bán cầu, nhằm làm cho đất nước đó "được hưởng những điều hạnh phúc của thế giới tự do", trong khi ngay tại nước Mỹ, nạn phân biệt chủng tộc, nghèo đói, bệnh tật, thất học. ngày càng trầm trọng. Tất cả những điều đó đã làm dấy lên phong trào phản đối chiến tranh trong các tầng lớp nhân dân Mỹ. Bước sang năm 1967, phong trào phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam đã bùng lên mạnh mẽ, biến thành những cuộc bạo động quyết liệt tại nhiều thành phố lớn của Mỹ như Giếc-xây, Đi-troa, Mi-si-gân.
Chính phủ liên bang phải sử dụng đến quân đội, cảnh sát, xe tăng để lập lại trật tự. Nước Mỹ đang bị chia rẽ sâu sắc không chỉ trong các tầng lớp nhân dân mà còn ngay cả trong nội bộ chính quyền của Tổng thống Giôn-xơn. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong chính phủ xuất hiện 3 phái khác nhau: một là phe "Bồ câu", đứng đầu là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (Mc Namara), muốn tìm cách giới hạn và giảm bớt quy mô của cuộc chiến tranh, tiến tới một giải pháp thương lượng hoà bình để chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước; hai là phe "Diều hâu", đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân - tướng Uy-lơ (Wheerler) và tướng Oét-mo-len (Westmoreland) - Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chủ trương thúc giục Tổng thống Giôn-xơn tăng cường quân Mỹ sang Việt Nam, tăng cường đánh phá miền Bắc, mở rộng quy mô cuộc chiến tranh hòng tìm thắng lợi bằng sức mạnh quân sự; thứ ba là phe "Trung dung" (còn gọi là ôn hoà), đứng đầu là Tổng thống Giôn-xơn, chủ trương dung hoà giữa 2 phe trên. Tổng thống Giôn-xơn yêu cầu "những người có trách nhiệm" trong chính phủ phải đảm bảo tránh được sự đảo lộn bất ngờ trong cuộc chiến tranh Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ông ta tham gia tranh cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ mới sẽ diễn ra vào năm 1968.
Tất cả những tình hình trên đây đã làm cho Đảng ta đi đến một nhận định rất quan trọng: "những cố gắng chiến tranh của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã tới đỉnh cao" [27, tr. Về phía ta, sau hơn 2 năm chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh cục bộ", lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã phát triển không ngừng, đến cuối năm 1967, trên toàn miền Nam ta có khoảng gần 300.000 bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Ngoài ra, lực lượng du kích được phát triển rộng lớn đến hầu khắp các địa phương, khu vực thực hiện bám đánh địch, vận dụng nhiều phương thức tác chiến linh hoạt tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng. Địch không những vấp phải những khó khăn trong các cuộc hành quân càn quét mà còn luôn bị uy hiếp ngay cả khi chúng ở căn cứ.
Các cuộc đấu tranh chính trị tại những khu vực do Mỹ - chính quyền Sài Gòn kiểm soát ngày một lớn mạnh cả về hình thức và nội dung, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Vùng giải phóng được giữ vững; đặc biệt, lực lượng vũ trang ta vẫn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đứng chân tại những địa bàn chiến lược trải rộng trên toàn miền Nam từ Quảng Trị, miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, trực tiếp đe doạ không chỉ vùng nông thôn, vùng ngoại tuyến mà ngay tại các thành phố lớn ở miền Nam. Trên thực tế, Mỹ - chính quyền Sài Gòn ngày càng lâm vào thế bị động về chiến lược. Mặc dù nắm trong tay hàng triệu quân nhưng địch vẫn phải đưa quân về đóng tại những vùng mà chúng cho là quan trọng, trong đó, địch tập trung lực lượng mạnh ở Vùng 1 chiến thuật và Vùng 3 chiến thuật, những nơi được xem là chịu "sức ép lớn của đối phương"1.
Trước sức tiến công của quân và dân ta trên toàn miền Nam, mặc dù có số quân đông2, hoả lực rất mạnh3. nhưng địch không còn khả năng mở cuộc phản công chiến lược lần thứ ba nữa. Trong báo cáo gửi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, Oét-mo-len xác nhận rằng: "Đến tháng 12-1967, tin tức về những cuộc chuyển quân lớn của phía địch đã bắt buộc tôi phải huỷ bỏ những kế hoạch đó (cuộc phản công chiến lược lần thứ 3 - TG)" [22, tr. Những thất bại nặng nề trên chiến trường và những khó khăn trong nước gặp phải đã đặt chính quyền của Tổng thống Giôn-xơn lâm vào tình 1 Bố trí lực lượng của địch cuối năm 1967 trên chiến trường miền Nam: - Vùng 1 chiến thuật: quân Mỹ: 2 sư đoàn thuỷ quân lục chiến (số 1 và số 3), Sư đoàn Americơn, Lữ đoàn 3, Lữ đoàn 1/Sư đoàn không vận Quân đội Sài Gòn: Sư đoàn 1, 2, Sư đoàn dù.
- Vùng 2 chiến thuật: quân Mỹ: Sư đoàn kỵ binh không vận (-), Lữ đoàn 173, Sư đoàn 4. Quân đội Sài Gòn: 2 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến và 2 sư đoàn quân Nam Triều Tiên. - Vùng 3 chiến thuật: quân Mỹ: Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Sư đoàn 101 (-), 1 lữ đoàn/Sư đoàn 9, Lữ đoàn 199, Trung đoàn 11 kỵ binh bay, thiết giáp. Quân đội Sài Gòn: Sư đoàn 5, 25, 18, sư đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến, Liên đoàn 3 biệt động quân và 1 trung đoàn quân Ốtxtrâylia ở Phước Tuy, 1 sư đoàn Thái Lan.
- Vùng 4 chiến thuật: Mỹ: 2 lữ đoàn/Sư đoàn 9. Quân đội Sài Gòn: Sư đoàn 7, 9, 21, Lữ đoàn 4 biệt động quân [8, tr. 2 Đến tháng 12-1967, lính Mỹ có mặt trên chiến trường miền Nam là 497.000 quân, gồm 9 sư đoàn + 3 lữ đoàn; khoảng 60.000 quân một số nước đồng minh của Mỹ; 640.000 quân đội Sài Gòn. 3 Chỉ tính riêng lực lượng pháo binh, đến cuối năm 1967, trên chiến trường Việt Nam, địch có 111 tiểu đoàn (trong đó 73 tiểu đoàn Mỹ, 28 tiểu đoàn pháo quân đội Sài Gòn, 10 tiểu đoàn pháo của quân đồng minh), với tổng số 1.936 khẩu pháo các loại.
Đó là chưa kể lực lượng không quân, tàu chiến Mỹ. Phó Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Cô-mơ tuyên bố: "Với niềm lạc quan hơn bao giờ hết, chúng ta sẽ nghiền nát kẻ thù dưới sức nặng tuyệt đối của các lực lượng vũ trang Mỹ và đồng minh" [38, tr. 4 Sự bị động của Mỹ còn thể hiện ở việc liên tục thay đổi kế hoạch điều động Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 (con át chủ bài) từ nơi này đến nơi khác trong năm 1967. Lúc đầu, Sư đoàn này đang đứng chân ở Tây Nguyên - Vùng 2 chiến thuật được dự định chuyển vào đồng bằng sông Cửu Long giáp biên giới Campuchia định mở các cuộc hành quân càn quét, hỗ trợ cho gọng kìm "bình định", sau Oét-mo-len lại bỏ kế hoạch này và muốn đưa Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 vào Vùng 3 chiến thuật nhưng chưa kịp thực hiện thì phát hiện sự chuyển quân của ta ở Khe Sanh nên Oét-mo-len lại điều Sư đoàn này ra Vùng 1 chiến thuật.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh "lưỡng nan về chiến lược" trong cuộc chiến Việt Nam: hoặc là đẩy mạnh cuộc chiến tranh với quy mô, cường độ lớn, điều đó đòi hỏi phải đưa thêm nhiều lính Mỹ sang Việt Nam; hoặc là duy trì hiện trạng cuộc chiến, tránh những đảo lộn bất ngờ trên chiến trường. Nhằm hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự, tháng 1-1967, ta mở thêm mặt trận ngoại giao mới đánh địch. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 đã chỉ rõ: "Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường.
Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động" [26, tr. Trước năm 1967, lập trường trước sau như một của ta là yêu cầu Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống phá nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và phải rút hết quân ra khỏi miền Nam trước khi có bất cứ cuộc "nói chuyện nào" giữa hai bên. Ngày 28-1-1967, Bộ trưởng Ngoại giao nước ta Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Chỉ sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thì Việt Nam dân chủ cộng hoà với Mỹ có thể nói chuyện được" [47, tr. Ta không gắn với việc yêu cầu Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nữa.
Chủ trương này của ta được bè bạn và chính phủ nhiều nước trên thế giới ủng hộ. Dư luận thế giới cho rằng phía Việt Nam đã tỏ rõ "thiện chí hoà bình" và đòi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc để tạo điều kiện đi vào đàm phán. Lập trường này của ta đã làm cho chính quyền Giôn-xơn rất lúng túng. Lập trường của Mỹ đưa ra vẫn là "có đi có lại", yêu cầu Việt Nam dân chủ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng hoà cũng "phải xuống thang quân sự ở miền Nam" và phải giảm thâm nhập vào miền Nam.
Cuộc đấu tranh không biết mệt mỏi với những thắng lợi giành được trong cuộc đụng đầu với đế quốc Mỹ đã làm nức lòng bè bạn của ta khắp năm châu. Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ngày càng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của chính phủ và nhân dân nhiều nước trên thế giới.