phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý khoa học, chuyển giao công nghệ và chia sẻ rủi ro - Chƣơng 2: Hiện trạng các rủi ro trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương. - Chƣơng 3: Giải pháp nhằm chia sẻ rủi ro đầu tư nước ngoài. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ CHIA SẺ RỦI RO VỚI CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ 1. Khoa học Khoa học đƣợc hiểu là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy”. Theo định nghĩa của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy”. Theo quan điểm triết học Mác, khoa học đƣợc hiểu là một hình thái ý thức xã hội.
Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, con ngƣời ngày càng hiểu biết đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới xung quanh và nhờ có các thành tựu khoa học chúng ta sáng tạo ra các phƣơng tiện tìm hiểu, khám phá và chinh phục thế giới. Công nghệ Công nghệ là những phƣơng pháp, cách thức dựa trên cơ sở khoa học đƣợc sử dụng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất.
Công nghệ là kết quả của quá trình vật chất hoá tri thức khoa học, vận dụng các quy luật tự nhiên, các nguyên lý khoa học vào sản xuất thông qua các phƣơng tiện kỹ thuật, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Theo định nghĩa nêu trên chúng ta thấy công nghệ bao gồm hai yếu tố tinh thần và vật chất. Yếu tố tinh thần ở đây là các tri thức khoa học, các phƣơng pháp, cách thức con ngƣời sử dụng nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất.
Yếu tố vật chất ở đây là các thiết bị kỹ thuật con ngƣời sử dụng trong quá trình sản xuất. Con ngƣời là nhân tố duy nhất có khả năng tổng hợp các lực lƣợng vật chất và tinh thần để áp dụng vào thực tiễn, bởi vì tri thức khoa học và phƣơng tiện kỹ thuật chỉ có thể phát huy đƣợc tác dụng qua quá trình hoạt động của con ngƣời. Chúng ta có thể hiểu công nghệ gồm hai phần, phần cứng và phần mềm. - Phần cứng: là toàn bộ phần ta có thể nhìn thấy đƣợc và có thể mua bán đƣợc trên thị trƣờng nhƣ thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất.
- Phần mềm, gồm: tri thức, kỹ năng, công thức để sử dụng phần cứng tạo ra sản phẩm vật chất. Trong cơ chế thị trƣờng phần mềm cũng có thể mua, bán hoặc trao đổi trên thị trƣờng. Trong một số trƣờng hợp, ngƣời ta phân công nghệ thành bốn nhóm yếu tố cơ bản: + Nhóm yếu tố kỹ thuật gồm các thiết bị, máy móc… + Nhóm yếu tố con ngƣời gồm các chuyên gia nghiên cứu, tƣ vấn, những ngƣời trực tiếp gắn bó với các hoạt động công nghệ. + Nhóm yếu tố tổ chức gồm các bộ máy, thể chế, quản lý… + Nhóm yếu tố thông tin gồm bí quyết sản xuất, công thức, phƣơng thức tiến hành.
Để đảm bảo hiệu quả và củng cố thƣơng hiệu của sản phẩm, nhà đầu tƣ trong quá trình lập dự án đầu tƣ cần chú ý đến nhu cầu của thị trƣờng với sản phẩm, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, khả năng tài chính, ngoại tệ đối với máy móc nhập khẩu, nguồn cung cấp thiết bị, trong nƣớc hay nƣớc ngoài (và nếu nƣớc ngoài thì công nghệ của quốc gia nào, thế hệ nào là phù 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp và mang lại giá trị kinh tế cao, chính sách bảo hộ mậu dịch của Việt Nam…). Hoạt động Khoa học và Công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu khoa học là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, tìm hiểu các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy, sáng tạo ra các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Phát triển công nghệ Theo Luật Khoa học và công nghệ, phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản phẩm thử nghiệm; Triển khai thực nghiệm: Là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học đề làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; Sản xuất thử nghiệm: Là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trƣớc khi đƣa vào sản xuất và đời sống; Dịch vụ khoa học công nghệ: Là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tƣ vấn, đào tạo, bồi dƣỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn. Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lƣợng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con ngƣời mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới phù hợp với thực tiễn Việt Nam; Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội nhân văn; gắn liền nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trƣờng công nghệ; Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Quản lý khoa học và công nghệ Quản lý khoa học và công nghệ là công tác tổ chức và quản lý việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ theo những quy trình, quy định thống nhất nhằm đạt chất lƣợng và hiệu quả cao nhất; Quản lý khoa học và công nghệ đóng vai trò rất quan trọng vì nếu nhƣ thiếu sự quản lý thống nhất, thiếu sự tổ chức hoạt động nghiên cứu và ứng dụng một cách khoa học sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả ứng dụng thực tế, gây lãng phí và có thể gây cản trở đối với sản xuất và dịch vụ. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chuyển giao công nghệ 1. Khái niệm chuyển giao công nghệ Theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006: Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.
- Chuyển giao công nghệ là chuyền giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ. + Cách hiểu thứ nhất: Chuyển giao là phƣơng thức mà một cá nhân/tổ chức/quốc gia có đƣợc công nghệ hoặc khả năng công nghệ từ một cá nhân/tổ chức/quốc gia khác. Nhƣ vậy nó bao gồm bất kỳ hình thái, dạng thức nào truyền công nghệ từ nơi này sang nơi khác, trong đó bên giao sẽ mất đi cái đƣợc chuyển cho bên nhận. + Theo cách hiểu thứ hai: CGCN cho rằng mọi hình thức truyển công nghệ không thể coi “chuyển giao” và chỉ có thể “chuyển giao” là những gì mất tiền.
Chuyển giao này tồn tại trong khung cảnh ngƣời mua và ngƣời bán công nghệ. - CGCN: chỉ là việc mua bán công nghệ - chuyển giao mất tiền; không chỉ là mua bán công nghệ - bao gồm cà chuyển giao mất tiền và chuyển giao không mất tiền. Theo Điều 8 về Quyền chuyển giao công nghệ - Chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ. - Tổ chức, cá nhân đƣợc chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao quyền sử dụng công nghệ có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó.
- Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tƣợng sở hữu công nghiệp nhƣng đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không đƣợc bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó. Biểu hiện của CGCN: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Bí quyết kỹ thuật: Là thông tin tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lƣợng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ; + Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật, có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm). + Dịch vụ chuyển giao công nghệ: Là quá trình hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN. + Định giá công nghệ: Là hoạt động xác định giá của công nghệ.