CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nước ngoài về mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển đến tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp. Hiện nay trên thế giới đã có một số bài nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển và các khía cạnh của nó đối với tỷ suất sinh lời. Archarungoj và Hoshino (1999) với đề tài “Firm size and R&D on profitability: An Empirical Analysis on Japanese Chemical and Pharmaceurical Industry” đánh giá ảnh hưởng của đầu tư R&D đến khả năng sinh lời sau này của doanh nghiệp, cũng như mức độ ảnh hưởng khác nhau của R&D đối với những doanh nghiệp có quy mô khác nhau.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 170 công ty Nhật Bản đang hoạt động trong lĩnh vực hóa phẩm và dược phẩm trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1996. Các tác giả sử dụng tổng số vốn đầu tư cho hoạt động R&D, cũng như tỷ lệ R&D trên tổng tài sản để đo lường mức R&D. Còn với khả năng sinh lời, tác giả sử dụng tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên chủ sở hữu (ROE), số vòng quay tổng tài sản (Total Asset Turnover), biên lợi nhuận gộp (Gross Profit Margin), biên doanh thu thuần (Ordinary Income Margin) để đánh giá cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Bằng phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động R&D có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, cũng như là đầu tư và quản lý R&D ở những doanh nghiệp lớn có hiệu quả hơn so với đầu tư R&D ở những doanh nghiệp nhỏ hơn.
Bài nghiên cứu “Impact of R&D on profitability in the pharma sector: An empiricial study from India” Daniesh (2016) tìm hiểu mối quan hệ của R&D với khả năng sinh lời của ngành công nghiệp dược phẩm của Ấn Độ. Dữ liệu của 55 công ty trong giai đoạn từ 2005 đến 2014 được tác giả cân nhắc cẩn trọng để nghiên cứu. Tác giả lựa chọn chỉ số ROA cùng với ROS đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng để ước lượng mối quan hệ giữa các biến.
Kết quả thu được cho thấy rằng các hoạt động R&D có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thuộc ngành dược phẩm ở Ấn Độ. Bài nghiên cứu còn chỉ ra rằng lợi ích đến từ việc đầu tư 1 vào R&D sẽ được tích lũy trong dài hạn, do đó nên đầu tư vào R&D nhiều hơn để công ty có khả năng phát triển bền vững hơn. Các công ty dược phẩm nên tập trung vào các dự án R&D dài hạn để họ có thể đưa ra các sản phẩm mới và sáng tạo những quy trình sản xuất với tần suất thường xuyên hơn. Karjalainen (2007) thực hiện bài nghiên cứu “R&D investments: The effects of different financial enviroments on firm profitability” vào năm 2007 để tìm hiểu ảnh hưởng của việc đầu tư vào R&D đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong tương lai trong những môi trường kinh tế khác nhau.
Dữ liệu được tác giả lấy từ 10 nước có nền kinh tế năng động trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2004 với tổng số 14,577 công ty làm mẫu quan sát. Tác giả nêu ra hai cặp giả thuyết về ảnh hưởng của đầu tư vào lĩnh vực R&D đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp ở những nền kinh tế khác nhau, cụ thể là nền kinh tế dựa vào ngân hàng làm trung tâm, và nền kinh tế dựa trên thị trường chứng khoán làm trung tâm. Kết quả thu được đối với phương pháp sử dụng thống kê mô tả cho thấy khả năng sinh lời của công ty ở mức thấp ở những quốc gia mà tỷ lệ đầu tư vào hạng mục R&D ít. Ngược lại, ở những quốc gia mà cường độ đầu tư vào lĩnh vực R&D nhiều thì thường có tỷ lệ sinh lời cao hơn.
Hơn thế nữa, kết quả thu được khi tác giả sử dụng phân tích hồi quy cho thấy tỷ suất sinh lời đều tăng khi đầu tư vào R&D tăng ở cả những quốc gia có nền kinh tế dựa vào ngân hàng làm trung tâm cũng như là các quốc gia mà lấy thị trường chứng khoán làm trung tâm. “Effects of R&D Expediture on the Profitability of Iran Industrial Firm” của Rabiei và Dadkhah (2013), nghiên cứu ảnh hưởng của chi phí dành cho khoản R&D và khả năng sinh lời của những doanh nghiệp sản xuất tại Iran. Tác giả sử dụng dữ liệu từ các doanh nghiệp sản xuất ISIC1 của Iran được sắp xếp dưới dạng bảng từ năm 2001 đến năm 2009. Bằng cách sử dụng phân tích hồi quy, các tác giả đã nghiên cứu được rằng việc chi tiêu dành cho R&D có tác động tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp, cụ thể hơn là việc gia tăng 1 : Hệ thống phân ngành quốc tế do Liên hiệp quốc phát triển để phân chia doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2 chi tiêu vào lĩnh vực R&D là những yếu tố chính dẫn đến sự tăng trưởng của lợi nhuận của doanh nghiệp trong ngành. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn chỉ ra thêm rằng việc đầu tư vào chi phí quảng cáo cũng có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nhiều vào quảng cáo thì sản phẩm của họ sẽ được biết đến rộng rãi hơn trên thị trường và sẽ có nhiều người tiêu dùng hơn qua đó doanh thu của doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực. Bài nghiên cứu của Kamasak (2016) với đề tài “The contribution of tangible and intangible resources, and capabilities to a firm’s profitability and market performance” xem xét mối tương quan giữa hai loại tài sản hữu hình cũng như vô hình đến khả năng hoạt động của doanh nghiệp thông qua đo lường giá trị thị trường của doanh nghiệp, doanh thu bán hàng cũng như là khả năng sinh lời của các công ty. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy phân cấp để phân tích dữ liệu thu thập được từ 243 trong 1000 công ty lớn nhất hoạt động trong những ngành nghề khác nhau đến từ Thổ Nhĩ Kỳ.
Để kiểm tra mối tương quan giữa tài sản hữu hình, vô hình đến khả năng hoạt động của doanh nghiệp, tác giả lần lượt xây dựng các giả thuyết về sự ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng đến với khả năng hoạt động của công ty. Kết quả thu được cho thấy rằng tài sản vô hình và khả năng hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng nhiều hơn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp so với tài sản hữu hình. Bài nghiên cứu “Impact of Intangible Assets on Profitability, Efficiency, Capital Structure and Dividend Policy, and Market Value of Technology Firms: A Global Comparative Analysis” của 2 tác giả Qureshi và Siddiqui (2020) nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của tài sản cố định vô hình đến khả năng hoạt động của những doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Tác giả sử dụng dữ liệu đến từ 80 công ty đến từ những nền kinh tế khác nhau từ năm 2015 đến năm 2018.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sủ dụng tài sản cố định làm biến độc lập và những biến phụ thuộc được tác giả nghiên cứu trong bài này là các tỷ số ROA, ROE, ROIC, Vòng quay tổng tài sản (Assets Turnover), Khả năng sinh lợi (Profitability), Nợ trên vốn chủ sở hữu (Debt to Equity Ratio), Chính sách chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio), Giá trên lợi nhuận của cổ phiếu (Price Earnings Ratio), Hệ số giá trên doanh thu (Price to Sales Ratio), Hệ số giá trên giá trị sổ sách (Price to Book Value). 3 Bằng cách sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM, kết quả tổng quan cho thấy rằng tài sản cố định vô hình có tác động tiêu cực đến các tỷ số ROE, ROA, ROIC, ATO, Nợ trên vốn chủ sở hữu, Hệ số giá trên giá trị sổ sách, Hệ số giá trên doanh thu, và ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của công ty nhưng mà con số thống kê không có ý nghĩa. Nghiên cứu của Adriana và các đồng nghiệp (2014) với tiêu đề” The Linkage Between Intangibles And Profitability” nghiên cứu mối tương quan giữa tài sản cố định vô hình và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tác giả sử dụng dữ liệu được thu thập được từ 251 công ty đang niêm yết trên sàn chứng khoán Frankfurt (FWB) và 311 doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán London (LSE) trong giai đoạn 10 năm từ 2001 đến 2010.
Các tác giả đã sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và phương trình hồi quy bội có hệ số bình phương nhỏ nhất (OLS) để tìm mối tương quan giữa chỉ số tài sản cố định vô hình trên tổng tài sản (Intangible to total assets) đến những chỉ số đại diện cho khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là ROA, ROCE, và Biên lợi nhuận gộp (Gross Margin). Kết quả thu được cho thấy tỷ số tài sản cố định trên tổng tài sản có mối tương quan dương đối với các chỉ số đại diện cho khả năng sinh lời. Tuy nhiên do các tác giả lấy số liệu nghiên cứu của những doanh nghiệp được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán khác nhau, do đó có sự khác biệt lớn về cấu trúc vốn giữa các doanh nghiệp, do đó mức độ ảnh hưởng của tài sản cố định vô hình đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp này cũng khác nhau. Kết quả chung của bài nghiên cứu nhìn chung đã chỉ ra được ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của tài sản cố định vô hình đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.
Bên cạnh những yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, nhiều bài nghiên cứu cũng đã viết về những yếu tố không liên quan trực tiếp đến khả năng sinh lời nhưng cũng có mức độ ảnh hưởng nào đó đến khả năng sinh lời như: Quy mô doanh nghiệp, hay là các chỉ số tài chính. Gharaibeh và Ghaith (2017) có bài nghiên cứu “Factors Affecting Profitability of the Jordanian Banking Sector” để xác định những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong ngành ngân hàng ở Jordan. Tác giả lấy dữ liệu từ ngân hàng trung ương Jordanian cũng như là trên sàn giao dịch chứng khoán Amman (ASE) về các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng trong vòng 22 năm từ năm 1993 đến năm 2014. Tác giả sử dụng ROA đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng như 4 làm biến phụ thuộc.
Chỉ số GDP thực (RGDP), Nguồn vốn, Quy mô doanh nghiệp, Tài sản cố định hữu hình được sử dụng làm các biến phụ thuộc. Mô hình thực nghiệm được sử dụng là phương pháp bình quân nhỏ nhất (OLS) để nghiên cứu.