Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ THÁI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘBẢO HIỂM THAI SẢN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản.1 Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản Ý tưởng về BHXH chỉ thực sự hình thành và phát triển khi xảy ra cuộc cách mạng công nghiệp tại Châu Âu. Từ khi kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công ngày càng trở nên phổ biến. Ban đầu giới chủ chỉ cam kết trả công lao động.
Dần dần, NLĐ muốn NSDLĐ phải cam kết trả thêm những khoản thu nhập cho NLĐ để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản hay tuổi già… Vấn đề mâu thuẫn lợi ích giữa hai bên dẫn tới việc nhà nước phải can thiệp điều chỉnh. BHXH chính thức xuất hiện tại Châu Âu từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ. Bộ luật đầu tiên đề cập tới chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 là Luật nhà máy. Năm 1883, nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành Đạo luật BHXH, đây là văn bản về BHXH đầu tiên trên thế giới.
Theo đạo luật này, hệ thống BHXH ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người làm công ăn lương và cả giới chủ. Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng hoạt động của BHXH. Sau đó nhiều nước Châu Âu cũng cho ra đời các Đạo luật của mình như Bỉ (1905), Ý, Áo, Pháp,. Đến đầu thế kỷ XX, BHXH đã mở rộng ra nhiều nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada và một số nước khác.
10 n Sau chiến tranh thế giới thứ II, tổ chức liên hợp quốc được thành lập. Ngày 10/12/1949, Liên Hợp Quốc thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền mà trong đó đã khẳng định mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng an sinh xã hội. Không lâu sau đó, đến ngày 25/6/1952 tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuộc liên hợp quốc lần đầu tiên thông qua Công ước 102 về an sinh xã hội. Đây là mốc son nổi bật đánh dấu sự phát triển của BHXH thế giới.
Công ước 102 của ILO có đề cập đến một số chế độ BHXH trong đó có CĐTS. ILO cho rằng việc đảm bảo thu nhập cho NLĐ, đặc biệt là lao động nữ khi mang thai, sinh con là hết sức cần thiết.[20] Ở Việt Nam, ngay từ khi giành chính quyền Đảng và Nhà nước ta cũng đã rất quan tâm đến chính sách BHXH trong đó có chế độ BHTS. BHTS được xác định là chế độ bảo hiểm mang tính bắt buộc áp dụng cho NLĐ khi tham gia quan hệ lao động. Nó bao gồm những quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và sức khỏe của NLĐ nữ khi mang thai, sinh con; NLĐ khi nhận nuôi con là trẻ sơ sinh; lao động nữ khi thực hiện biện pháp tránh thai.
Cụ thể BHXH quy định về thời gian nghỉ khám thai, thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con; mức hưởng trợ cấp; các điều kiện để hưởng trợ cấp; thời gian nghỉ dành cho lao động nam khi có vợ sinh con; mức hưởng trợ cấp thai sản với các trường hợp tương ứng; hướng dẫn quy trình thủ tục.Như vậy, bảo hiểm thai sản là gì. “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”[15]. Trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động, người lao động có thể sẽ gặp phải các rủi ro khác nhau như ốm đau, tai nạn. Đồng 11 n thời trong quá trình tham gia quan hệ lao động, cùng với việc thực hiện các nghĩa vụ của người lao động, người lao động cũng thực hiện thiên chức của mình, đó là sinh đẻ và nuôi con.
Khi đó người lao động có thể phải dừng việc tham gia quan hệ lao động khiến thu nhập của họ sẽ bị gián đoạn. BHXH sẽ bù đắp thu nhập cho người lao động trong thời gian này, giúp họ thực hiện thiên chức của mình, yên tâm sinh đẻ và nuôi con. Bởi vậylà một trong những chế độ bảo hiểm xã hội, BHXHTS thực chất cũng chính là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Vì vậy có thể đưa ra định nghĩa về bảo hiểm xã hội thai sản như sau: BHXHTS là chế độ BHXH nhằm đảm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH, do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Người lao động được hưởng BHXHTS ở đây không có nghĩa chỉ là lao động nữ mà có thể còn là lao động nam. Sự kiện thai sản ở đây bao gồm mang thai, sinh con hoặc có các sự kiện thai sản khác như thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Tùy thuộc vào từng điều kiện, trường hợp cụ thể mà lao động nữ hoặc lao động nam sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định.Vai trò, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản Thứ nhất, chế độ BHTS có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thu nhập của NLĐ. Đó là quá trong quá trình thai sản NLĐ phải nghỉ việc, không có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm.
Chế độ BHTS trợ cấp cho NLĐ một mặt đã bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ các khoản 12 n chi phí tăng thêm. Đồng thời góp phần thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ. Quy định trong chế độ BHTS đã góp phần ổn định tâm lý cho NLĐ, đặc biệt là lao động nữ khi họ có nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động. Chế độ BHTS đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, NSDLĐ và cả những NLĐ với nhau.
Thứ hai, đối với NSDLĐ, thực hiện chính sách thai sản tốt góp phần thu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ tham gia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và trình độ ngày càng cao trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Thông qua chính sách này NSDLĐthể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với NLĐ và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động. Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội, chế độ BHTS là sự chia sẻ của những người tham gia bảo hiểm đối với NLĐ khi thực hiện thiên chức.Tính xã hội được thể hiện là do có sự chia sẻ rủi ro của bảo hiểm thai sản, NLĐkhông phải đóng phí, phí đóng cho NLĐ hưởng được tính từ lợi nhuận sau thuế của NSDLĐ. Khoản tiền nàygiúp đảm bảo cuộc sống đối với NLĐkhi đang ở trong chế độ thai sản.
Vì thế CĐTS thể hiện trách nhiệm đặc biệt của NSDLĐ đối với NLĐ, tạo công bằng xã hội, tâm lý yên tâm cho NLĐ, góp phần dung hòa mối quan hệ NSDLĐ và NLĐ giúp cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp phát triển kinh tế gia đình và nền kinh tế chung của đất nước. Việc thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thai sản sẽ góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai. 13 n BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng thông qua việc chia sẻ rủi ro của một người hay của một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại. Với chế độ bảo hiểm thai sản, đó là sự sẻ chia, quan tâm từ cộng đồng và xã hội đối với phụ nữ, trẻ em là những đối tượng cần có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt.
Đồng thời, còn thể hiện chính sách bình đẳng giới khi san sẻ gánh nặng, trách nhiệm đối với gia đình giữa lao động namvà lao động nữ. Do đó BHXHTS góp phần ổn định trật tự xã hội. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản Các nguyên tắc cơ bản của BHXH là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHXH. BHXH luôn chứa đựng và đan xen hai yếu tố kinh tế và xã hội.
Là một trong những chế độ BHXH, bảo hiểm thai sản mang bản chất chung của BHXH đồng thời cũng có những nguyên tắc đặc trưng riêng khác biệt với những chế độ BHXH khác. Theo Điều 5 của Luật Bảo hiểm xã hội quy định: 1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ.
Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn. NLĐ vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo 14 n hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định.
Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội. Ngoài những nguyên tắc chung của BHXH thì BHXHTS còn có những nguyên tắc riêng như: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.Nói cách khác, cần căn cứ vào mức đóng góp của NLĐ để từ đó quy định mức trợ cấp phù hợp với đóng góp của NLĐ đó cho xã hội.