Chương 1: Các chính sách, chế độ đối với công chức văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Khảo sát, đánh giá việc thực hiện chính sách, chế độ đối với công chức văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với công chức văn thư, lưu trữ trong cơ quan nhà nước hiện nay 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù đã hết sức cố gắng nhƣng do khả năng có hạn nên chắc chắn trong luận văn còn có những sơ suất, thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy, cô và đồng nghiệp. Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận đƣợc sự động viên, giúp đỡ rất nhiệt tình của các thầy, cô giáo, các bạn lớp cao học Lƣu trữ 2009 – 2012, các đồng nghiệp tại Trƣờng Đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công chức – Bộ Nội vụ (nơi tôi đang công tác), các công chức văn thƣ, lƣu trữ ở Cục Văn thƣ và lƣu trữ nhà nƣớc và ở một số cơ quan Trung ƣơng và địa phƣơng. Đặc biệt, tôi luôn nhận đƣợc sự chỉ bảo, góp ý, giúp đỡ tận tình và động viên chân thành của PGS.TS Vũ Thị Phụng – ngƣời đã hƣớng dẫn tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới giáo viên hƣớng dẫn và tất cả công chức, viên chức, đồng nghiệp và bạn bè – những ngƣời đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua để hoàn thành bản luận văn này. Xin trân trọng cảm ơn. Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012 Nguyễn Thị Thanh Hương 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG Chƣơng 1 CÁC CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC VĂN THƢ, LƢU TRỮ TRONG CƠ QUAN NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.
Mô ̣t số khái niêm ̣ cơ bản 1. Cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nƣớc đƣợc hiểu là hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tƣ pháp đƣợc tổ chức từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Bao gồm: - Các cơ quan quyền lực nhà nƣớc (các cơ quan đại diện): Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phƣơng. - Các cơ quan hành chính nhà nƣớc, bao gồm các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng nhƣ: Chính phủ (Bộ, cơ quan ngang Bộ) và cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng gồm: Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp.
- Tòa án nhân dân các cấp - Viện Kiểm sát nhân dân các cấp. Trong hệ thống các cơ quan nhà nƣớc có các đơn vị sự nghiệp (gọi là đơn vị sự nghiệp công lập). Đó là một bộ phận cấu thành cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nƣớc, nhƣng tính chất hoạt động có sự khác biệt. Chẳng hạn nhƣ: Các Trung tâm Lƣu trữ Quốc gia, Trung tâm Lƣu trữ tỉnh…Đây là cơ sở để phân biệt những ngƣời tham gia vào quá trình hoạt động của các cơ quan này là công chức hay viên chức mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Công chức Khởi đầu sự hình thành khái niệm công chức ở nƣớc ta là việc ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Sắc lệnh này, công chức đƣợc hiểu là “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ ở trong và ngoài nƣớc”. Theo Sắc lệnh này, thì công chức chỉ bao gồm những ngƣời giữ chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, còn những ngƣời làm việc tại cơ quan khác không đƣợc coi là công chức.
Cùng với sự phát triển của xã hội và nhu cầu cải cách nền hành chính quốc gia, khái niệm công chức ngày càng đƣợc xác định rõ ràng, cụ thể hơn. Đến nay, Luật Cán bộ công chức năm 2008 định nghĩa: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị- xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc đảm bảo từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. [44] Ví dụ: Những ngƣời làm việc ở Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc hay Chi cục Văn thƣ và Lƣu trữ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng đều gọi là công chức. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc còn có các đơn vị sự nghiệp, làm việc trong các đơn vị sự nghiệp là đội ngũ viên chức (trừ ngƣời đứng đầu các đơn vị sự nghiệp).
Theo Luật viên chức số 58/2010/QH12: Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.[44] Ví dụ: Những ngƣời làm việc ở các Trung tâm Lƣu trữ Quốc gia hay Trung tâm Lƣu trữ thuộc Chi cục Văn thƣ và Lƣu trữ tỉnh, thành phố thuộc trung ƣơng (trừ ngƣời đứng đầu) thì gọi là viên chức. Chính sách, chế độ 1. Chính sách Đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về chính sách, tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau và cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách. - Từ cách phân biệt “chính sách” theo nghĩa rộng và “chính sách” theo nghĩa hẹp trong bài: “Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn xây dựng chính sách ở nƣớc ta”, TS.
Nguyễn Hữu Đổng và TS. Lê Minh Quân định nghĩa: chính sách với nghĩa rộng (nghĩa chung nhất) "là tổng thể các quan điểm, các biện pháp mà chủ thể lãnh đạo, quản lý (Đảng, nhà nƣớc và các tổ chức chính trị - xã hội) tác động lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định” còn “chính sách” theo nghĩa hẹp "là một quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định". [42] 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Định nghĩa về chính sách của TS. Chu Thành phân biệt cụ thể hơn, “chính sách” theo nghĩa bao quát và "chính sách" theo nghĩa hẹp.
Chính sách theo nghĩa bao quát "là đƣờng lối, chủ trƣơng quyết định chính trị để giải quyết công việc quốc gia của một chính đảng , của nhà nƣớc ". Chính sách cũng là chủ trƣơng , quyế t đinh ̣ của Đảng , Nhà nƣớc để giải quyết một lĩnh vƣ̣c nhấ t đ ịnh của đời sống kinh tế , chính trị, xã hội của đất nƣớc. Theo nghiã hẹp, "chính sách là sự quy định chế độ , thể chế hoá các mố i quan hê ̣ lơ ̣i ích , các lợi ích nhóm, bô ̣ phâ ̣n trong xã hô ̣i ". [42] - Theo từ điển tiếng Việt: “Chính sách là những sách lƣợc, kế hoạch cụ thể nhằm đạt đƣợc mục đích thống nhất, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế” [42] Theo nhiều nhà nghiên cứu: “Chính sách là hình thức tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của Nhà nƣớc, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các lợi ích, các mục tiêu, nhiệm vụ của các nhóm, tập đoàn xã hội ấy” [31.
Vậy, chính sách đối với cán bộ là những sách lƣợc và kế hoạch cụ thể của Nhà nƣớc áp dụng đối với cán bộ , công chức , viên chƣ́c nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định trên cơ sở thực hiện các quyền lợi , lợi ích đối với đô ̣i ngũ này dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế của đất nƣớ c. Chế độ Theo từ điển tiếng Việt: “Chế độ là toàn bộ những quy định nói chung cần tuân theo trong một việc nào đó” [42] Vậy, chế độ đối với cán bô ,̣ công chƣ́c, viên chƣ́c là những quy định cần tuân theo của Nhà nƣớc đối với công chức , viên chƣ́ c dựa vào trình độ chuyên 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môn nghiệp vụ, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội, nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý của Nhà nƣớc. Chế độ là những quy định cụ thể để thực hiện các chính sách. Ví dụ: Chính sách đãi ngộ đố i với cán bộ , Nhà nƣớc quy định các chế độ cụ thể nhƣ: phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp vùng, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại nguy hiểm.
Chính sách và chế độ là hai khái niệm gắn liền nhau, sự phân biệt giữa chúng chỉ mang tính chất tƣơng đối để thể hiện sự khuyến khích, sự quan tâm của Nhà nƣớc đối với cán bộ , công chức, viên chƣ́c tạo động lực cho họ hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Trong phạm vi luận văn tôi tạm thời sử dụng chung thuật ngữ chính sách, chế độ đối với công chức, viên chức văn thƣ, lƣu trữ để chỉ những quy định cần tuân theo của Nhà nƣớc đối với đội ngũ này dựa vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, công việc cụ thể, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội, nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý của Nhà nƣớc. Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, Nhà nƣớc có các chính sách, chế độ với công chƣ́c , viên chƣ́c cũng khác nhau , đƣợc thể chế hoá trong hệ thống luật pháp, các quyết định, các quy chuẩn hành vi và các quy định khác. Bản chất, nội dung, phƣơng hƣớng của chính sách, chế độ tuỳ thuộc vào tính chất, đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.