phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc Chƣơng 2. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay Chƣơng 3. Một số đánh giá về thực trạng và giải pháp hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc hiện nay Nguyễn Mai Phương 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở TRUNG QUỐC 1. KHÁI NIỆM THẤT NGHIỆP VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Thất nghiệp là hiện tƣợng kinh tế xã hội tồn tại ở hầu hết các quốc gia khi phát triển theo mô hình kinh tế thị trƣờng. Nhƣng mỗi quốc gia lại có cái nhìn khác nhau về thất nghiệp. Chẳng hạn ở một số nƣớc phát triển, họ định nghĩa thất nghiệp dựa trên kết quả điều tra xã hội học.
Ở Nhật, dựa vào kết quả điều tra sức lao động, họ cho rằng những ngƣời không có việc làm trong tổng số lao động đƣợc điều tra, đang tiến hành tìm việc, từ 15 tuổi trở lên và có năng lực làm việc, bao gồm cả những ngƣời chờ kết quả tìm việc trƣớc đây thì đƣợc coi là thất nghiệp. Hay ở Mỹ, cũng dựa vào kết quả điều tra sức lao động, họ cho rằng những ngƣời không có việc làm trong tổng số lao động đƣợc điều tra và tiến hành tìm việc trong vòng 4 tuần (kể cả tuần điều tra), ở độ tuổi lao động trên 16, bao gồm cả những công nhân tạm thời nghỉ việc và ngƣời chờ việc trong khoảng 30 ngày thì đƣợc xếp vào diện thất nghiệp. Còn ở Đức, ngƣời ta dựa vào thống kê nghiệp vụ của tổ chức giới thiệu việc làm, cho rằng những ngƣời đăng ký tìm việc tại trung tâm môi giới việc làm với hy vọng tìm đƣợc việc trong thời gian từ 19 tiếng đến 3 tháng và có năng lực làm việc thì đƣợc coi là thất nghiệp [87,288]. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng một số ngƣời trong lực lƣợng lao động muốn làm việc nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.
Nhƣ vậy, thất nghiệp có thể hiểu là tình trạng phát sinh khi “tổng cung về lao động của những ngƣời lao động muốn làm việc với mức tiền lƣơng danh nghĩa tại một thời Nguyễn Mai Phương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay điểm lớn hơn khối lƣợng việc làm hiện có” [10,194]. Còn theo giải thích mới nhất của Bộ Lao động và An sinh xã hội Trung Quốc, tiêu chuẩn đánh giá thất nghiệp là những ngƣời trong độ tuổi lao động theo quy định (từ 16 tuổi đến tuổi nghỉ hƣu), có năng lực lao động, có nguyện vọng đƣợc sắp xếp công ăn việc làm nhƣng lại rơi vào tình trạng không có việc để làm, hoặc tuy có công việc nhƣng mức thù lao thấp hơn tiêu chuẩn bảo đảm mức sống tối thiểu của ngƣời dân tại thành phố thuộc khu vực đó thì đƣợc coi là thất nghiệp [89,1]. Ngoài ra, dựa vào đặc thù tình hình lao động và việc làm trong nƣớc, thất nghiệp ở Trung Quốc còn mang đặc sắc riêng. Đó là ngƣời thất nghiệp ở Trung Quốc là những lao động ở thành phố, thị trấn, không làm nông nghiệp, không bao gồm lao động nông thôn, do đó, lao động từ nông thôn vào thành phố làm thuê không nằm trong diện thống kê thất nghiệp, và nông dân càng không thể tồn tại vấn đề thất nghiệp.
Bên cạnh đó, ở Trung Quốc còn tồn tại một hiện tƣợng thất nghiệp riêng biệt, đó là thất nghiệp “hạ cƣơng”. Đây là hiện tƣợng thất nghiệp tạo bởi một số lƣợng lớn công nhân viên chức bị sa thải khỏi doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp tập thể ở thành phố và các thành phần kinh tế khác sau khi Trung Quốc cải cách thể chế kinh tế thị trƣờng, đặc biệt là trong quá trình cải cách doanh nghiệp. Từ sự khác biệt về định nghĩa thất nghiệp của mỗi nƣớc, phân định của Tổ chức Lao động quốc tế đối với thất nghiệp và nhận định của lãnh đạo Trung Quốc về thất nghiệp cho thấy, tiêu chuẩn phân định thất nghiệp cần đƣợc tiến hành dựa vào tình hình công việc và tình hình của mỗi ngƣời lao động. Do đó, chủ thể của thất nghiệp cần có ba điều kiện: có năng lực lao động; có nguyện vọng làm việc; hiện tại không có việc làm.
Tóm lại, có thể định nghĩa cơ bản về thất nghiệp nhƣ sau: thất nghiệp là hiện tƣợng xã hội chỉ những ngƣời trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động, có nguyện vọng tìm việc nhƣng chƣa tìm đƣợc và bị mất cơ hội việc làm. Nguyễn Mai Phương 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay Hiểu đƣợc khái niệm thất nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chính xác về chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp đƣợc định nghĩa là một chế độ đƣợc thực hiện bằng sự cƣỡng chế luật pháp của nhà nƣớc, trong đó xã hội tập trung xây dựng quỹ, mục đích giúp đỡ về vật chất những ngƣời lao động thất nghiệp tạm thời không có nguồn sống, bảo đảm đời sống cơ bản cho họ, đồng thời tạo điều kiện tái tạo việc làm cho họ thông qua bồi dƣỡng chuyên nghiệp, giới thiệu việc làm [89,10]. Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng tạo nên hệ thống an sinh xã hội và là một trong những hạng mục chủ yếu của bảo hiểm xã hội.
Nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp là bảo đảm đời sống cơ bản của ngƣời lao động tạm thời rơi vào tình trạng thất nghiệp, đồng thời thông qua bồi dƣỡng thất nghiệp, giúp ngƣời thất nghiệp nhanh chóng tìm đƣợc việc làm mới. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện nay, hiện tƣợng thất nghiệp là không tránh khỏi, ngƣời thất nghiệp tách khỏi vị trí công việc nghĩa là đã mất nguồn thu và mất việc, có nghĩa là không còn cách nào bảo đảm đời sống cơ bản, không đƣợc xã hội và mọi ngƣời thừa nhận, lâu dần ngƣời thất nghiệp sẽ mất lòng tin vào bản thân, thậm chí đi vào con đƣờng phạm tội. Để ngƣời lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ tạo điều kiện để họ duy trì đời sống trong thời gian chƣa tìm đƣợc việc làm. Sở dĩ ngƣời ta hay gọi bảo hiểm thất nghiệp là “vũ khí giảm chấn động” và “mạng lƣới an toàn” [89,10] của hiện tƣợng thất nghiệp vì nó có hai chức năng trên.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Nhìn một cách tổng quan, chế đô ̣ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc đã đƣơ ̣c hình thành, phát triển và hoàn thiện trên cơ sở kế thƣ̀a có cho ̣n lo ̣c hê ̣ thố ng lý luâ ̣n bảo hiể m thấ t nghiê ̣p của phƣơng Tây. Xin điểm qua một số lý luận ở phƣơng Tây có ảnh hƣởng lớn tới sự hình thành bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc: Nguyễn Mai Phương 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay Thứ nhất là chủ nghĩa lịch sử mới (hay còn gọi là học phái lịch sử mới của Đức). Đây là một học phái rất thịnh hành ở nƣớc Đức, sau đó lan rộng toàn Châu Âu từ những năm 70 của thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đại diện là các tên tuổi Gustavus Smouller, Adolf Wagner, Ludwig Brenta. Họ chủ trƣơng, nhà nƣớc không chỉ thực hiện chức năng ổn định trật tự trong nƣớc và phát triển quyền lực quân sự quốc gia, mà cần phải có chức năng quản lý đời sống kinh tế, phải thực hiện chức năng quản lý kinh tế và gánh nhiệm vụ thúc đẩy “văn minh và phúc lợi”.
Lúc bấy giờ, nguy cơ lớn nhất trong xã hội nƣớc Đức là vấn đề lao động. Do đó, họ cho rằng, nhà nƣớc phải thực hiện các biện pháp, chính sách xã hội theo pháp luật nhƣ bảo hiểm xã hội, cứu trợ ngƣời già, trẻ em, hợp tác lao động và vốn, thực hiện cải cách kinh tế và xã hội từ trên xuống dƣới. Lý luận của họ nhận đƣợc sự đồng tình trong nƣớc. Vì thế, quan điểm lý luận cũng nhƣ chủ trƣơng về bảo hiểm xã hội của họ đƣợc thực hiện ở Đức.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sự ra đời của bảo hiểm thất nghiệp ở Đức chính là bƣớc phát triển tiếp theo của chủ trƣơng chủ nghĩa lịch sử mới. Chủ trƣơng này không chỉ đƣợc thực hiện ở Đức mà sau này còn đƣợc tiến hành ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa khác [28,8]. Thứ hai là học phái kinh tế phúc lợi. Học phái này rất đƣợc thịnh hành ở nƣớc Anh từ những năm 20 của thế kỷ XX, đại diện chủ yếu là nhà kinh tế học ngƣời Anh Pigou.
Học phái kinh tế học nhấn mạnh đến việc tăng nhanh phúc lợi thông qua tái phân phối thu nhập quốc dân và tăng thu nhập quốc dân. Mấu chốt của tăng thu nhập quốc dân là yếu tố sản xuất phân phối hợp lý, trong đó quan trọng nhất là yếu tố sức lao động. Mà muốn phân bố hợp lý sức lao động thì phải cải thiện điều kiện sống và tình hình phúc lợi của ngƣời lao động, giúp đỡ về vật chất và phục vụ đời sống đối với các trƣờng hợp ngƣời bệnh tật, tàn tật, sinh đẻ, thất nghiệp, già yếu, tử vong [28,8]. Bảo hiểm thất nghiệp ngày nay đã áp dụng một trong những nguyên tắc cơ bản đó, đó là Nguyễn Mai Phương 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay nguyên tắc mang tính công bằng, suy đến cùng đó là kinh tế học phúc lợi- tức là thực hiện phƣơng châm phát triển kinh tế nhƣng luôn duy trì công bằng xã hội.
Vì thế, chủ trƣơng của học phái kinh tế phúc lợi đã trở thành cơ sở lý luận để thực hiện chính sách phúc lợi phổ biến không chỉ ở Anh mà còn ở một số nƣớc khác, nó góp phần thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở những quốc gia theo đuổi chính sách này. Thứ ba là kinh tế học chủ nghĩa Keynes. Ông chủ trƣơng lấy “quản lý nhu cầu” làm nền tảng để xây dựng lý luận kinh tế an sinh xã hội. Ông cho rằng, ở phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, nhu cầu quyết định yếu tố nguồn cung.