Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1992 đã đặt Trung Quốc trước những thách thức xã hội to lớn. Với quy mô dân số trên 1,3 tỷ người cùng lực lượng cung ứng lao động đạt khoảng 786,94 triệu người, áp lực giải quyết việc làm cho khu vực đô thị luôn là vấn đề sống còn đối với ổn định vĩ mô. Tỷ lệ đăng ký thất nghiệp tại thành thị Trung Quốc đã tăng mạnh từ mức 1,8% năm 1985 lên 2,3% vào năm 1992, tiếp tục duy trì ở mức 3,0% năm 1996 và 3,1% năm 1998. Bối cảnh tái cơ cấu và tinh giản biên chế tại các doanh nghiệp nhà nước đã đẩy hàng chục triệu lao động dôi dư ra ngoài xã hội, hình thành nên hiện tượng lao động hạ cương đặc thù.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện tiến trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2008. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc làm rõ các cơ sở lý luận, phân tích thực trạng chuyển dịch chính sách từ chế độ bảo hiểm chờ việc sang bảo hiểm thất nghiệp toàn diện, đồng thời đánh giá các thành tựu và rào cản nội tại của hệ thống an sinh xã hội này. Thông qua việc phân tích dữ liệu mở rộng độ bao phủ đạt 116,45 triệu người tham gia vào cuối năm 2007 và kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp đô thị quanh ngưỡng 4,0% đến 4,2%, công trình cung cấp những luận cứ khoa học sắc bén. Nghiên cứu mang giá trị tham chiếu thực tiễn sâu sắc cho Việt Nam trong quá trình chuẩn bị ban hành và vận hành chính thức chế độ bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu từ năm 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kế thừa có chọn lọc các hệ thống lý luận kinh tế và xã hội học tiêu biểu trên thế giới:

Thứ nhất, học phái Lịch sử mới của Đức với các đại diện tiêu biểu như Gustavus Smouller và Adolf Wagner, khẳng định vai trò can thiệp của nhà nước trong việc quản trị kinh tế và cung ứng phúc lợi xã hội nhằm ổn định trật tự lao động.

Thứ hai, lý thuyết Kinh tế học phúc lợi của Pigou nhấn mạnh việc tái phân phối thu nhập quốc dân để tối ưu hóa nguồn lực sản xuất, trong đó sức lao động là yếu tố then chốt cần được bảo vệ trước rủi ro kinh tế.

Thứ ba, trường phái Kinh tế học vĩ mô của Keynes về quản lý tổng cầu, xem việc mở rộng an sinh xã hội là công cụ kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất.

Thứ tư, lý luận thất nghiệp cơ cấu của Morgan chỉ ra rằng thất nghiệp là hiện tượng tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa do sự đào thải ngành nghề cũ và ứng dụng công nghệ mới.

Về mặt khái niệm, luận văn tập trung chuẩn hóa các thuật ngữ cốt lõi: thất nghiệp theo tiêu chuẩn Tổ chức Lao động Quốc tế và đặc thù đô thị Trung Quốc; chế độ bảo hiểm thất nghiệp như một mạng lưới an toàn xã hội bắt buộc; hiện tượng lao động hạ cương do cải cách khu vực kinh tế nhà nước; và mô hình mạng lưới ba tuyến bảo đảm kết hợp giữa trợ cấp doanh nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp và cứu trợ xã hội tối thiểu. Trên phạm vi toàn cầu, đến năm 1999 đã có 68 quốc gia thiết lập hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 40% tổng số quốc gia có chính sách bảo hiểm xã hội, tạo nền tảng vững chắc để Trung Quốc chuẩn hóa hệ thống của mình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc vụ viện Trung Quốc như Quy định năm 1986, Quy định năm 1993, Điều lệ Bảo hiểm thất nghiệp năm 1999, cùng số liệu từ Niên giám Thống kê Lao động và An sinh Xã hội Trung Quốc năm 2004 và các báo cáo phát triển ngành giai đoạn 2003-2007.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu vĩ mô của toàn bộ lực lượng lao động đô thị với quy mô khảo sát trên 120 triệu công nhân viên chức tại 31 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình được áp dụng để khảo sát chuyên sâu tại các trung tâm kinh tế trọng điểm như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông và khu vực công nghiệp truyền thống gồm 3 tỉnh Đông Bắc nơi tập trung 2,59 triệu lao động dôi dư.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp biện chứng duy vật kết hợp với phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp thể chế và so sánh đối chiếu. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm bóc tách bản chất của các mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ chuyển đổi thể chế kinh tế thị trường và mức độ thích ứng của chính sách an sinh, giúp đánh giá chính xác tác động của chính sách qua từng giai đoạn lịch sử từ năm 1992 đến năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng giai đoạn 1992-2008 đã mang lại bốn phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, diện bao phủ của bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng vượt bậc. Nếu năm 1992 cả nước mới có 74,4 triệu công nhân viên chức quốc doanh tham gia, thì sau khi Điều lệ Bảo hiểm thất nghiệp năm 1999 có hiệu lực, con số này đã tăng lên 98,52 triệu người vào cuối năm 1999, đạt mức tăng trưởng 24,3% so với năm 1998. Đến cuối năm 2007, số người tham gia đạt 116,45 triệu người, chiếm 128,2% tổng số công nhân viên chức chính thức trong các đơn vị đô thị và hoàn thành 78% mục tiêu mở rộng đề ra.

Thứ hai, cơ chế tài chính quỹ chuyển biến rõ rệt từ nguồn đơn nhất sang cơ cấu đa nguồn gồm 4 trụ cột: doanh nghiệp đóng 2% tổng quỹ lương, người lao động đóng 1% lương cơ bản, nguồn hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và lợi tức từ đầu tư quỹ. Năm 1999, quỹ đã chi trả 3,21 tỷ Nhân dân tệ tiền trợ cấp cho 2,71 triệu người, tăng lần lượt 60% về quy mô tài chính và 71,5% về số lượng đối tượng thụ hưởng so với năm trước đó.

Thứ ba, chính sách đóng vai trò quyết định trong việc kiềm chế tỷ lệ thất nghiệp đăng ký tại đô thị. Tỷ lệ này được khống chế ở mức 4,2% năm 2004, giảm dần xuống 4,1% năm 2006 và ổn định ở mức 4,0% trong giai đoạn 2007-2008, giải tỏa đáng kể sức ép cho hơn 11,5 triệu công nhân mất việc tích lũy từ thời kỳ cải cách doanh nghiệp nhà nước cuối năm 1997.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự bất cập sâu sắc trong cấp độ dự trù quỹ khi phần lớn các địa phương vẫn chỉ thực hiện dự toán ở cấp huyện và thành phố trực thuộc tỉnh, làm suy giảm năng lực điều phối rủi ro liên vùng, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp ngầm trong các doanh nghiệp quốc doanh vẫn tồn đọng ước tính từ 15% đến 30%, tương đương 15 đến 30 triệu người.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các biến động nêu trên bắt nguồn từ sự tái cấu trúc quyết liệt các ngành công nghiệp nặng và truyền thống. Tỷ lệ lao động dôi dư tại ngành dệt may chiếm 18%, ngành lâm nghiệp chiếm 25,8%, công nghiệp quốc phòng chiếm 23% và ngành khai khoáng chiếm 19%. Sự bùng nổ của dòng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị với khoảng 30 triệu người mỗi năm trong tổng số 490 triệu lao động nông thôn đã tạo ra áp lực kép lên thị trường việc làm.

So với các mô hình bảo hiểm thất nghiệp thuần túy mang tính trợ cấp thụ động của phương Tây, mô hình của Trung Quốc đã có bước tiến khi gắn kết chế độ bảo đảm đời sống với mạng lưới xúc tiến tái tạo việc làm thông qua hơn 750 cơ sở bồi dưỡng nghề và 400 cơ sở tự kiếm sống.

Xu hướng vận động của dữ liệu có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ đường thể hiện tương quan nghịch biến giữa tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng trưởng liên tục từ năm 1992 đến 2007 và sự hạ nhiệt của tỷ lệ thất nghiệp đô thị sau năm 2004. Đồng thời, bảng cấu trúc thu chi quỹ phản ánh rõ nét sự mất cân đối tài chính giữa các tỉnh miền Đông phát triển và khu vực công nghiệp cũ miền Đông Bắc, khẳng định tính cấp thiết phải nâng cấp mức độ tập trung quỹ lên quy mô cấp tỉnh và trung ương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong thể chế kinh tế thị trường, nghiên cứu đề xuất năm nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái cấu trúc chức năng quỹ theo hướng kết hợp hữu cơ giữa chi trả trợ cấp và đào tạo nghề chủ động. Bộ Lao động và An sinh Xã hội Trung Quốc cần phân bổ tối thiểu 15% đến 20% kết dư quỹ hằng năm cho các trung tâm xúc tiến việc làm, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tái tạo việc làm thành công cho người thất nghiệp lên trên 65% trong giai đoạn 2009-2015.

Thứ hai, nâng cấp độ dự trù và điều phối quỹ từ cấp huyện lên cấp tỉnh trên phạm vi toàn quốc. Quốc vụ viện và Bộ Tài chính cần ban hành lộ trình thống nhất quản lý tài chính quỹ cấp tỉnh trong vòng 3 năm, hoàn thành trước năm 2012 nhằm đảm bảo năng lực chi trả 100% tại các địa phương khó khăn.

Thứ ba, mở rộng diện bao phủ bắt buộc sang khu vực kinh tế tư nhân và lao động di cư nông thôn. Chính quyền các cấp và tổ chức công đoàn cần phối hợp triển khai giám sát thu phí, phấn đấu kết nạp thêm 25 đến 30 triệu lao động phi chính thức vào hệ thống an sinh trước năm 2015.

Thứ tư, điều chỉnh linh hoạt định mức trợ cấp sinh hoạt và hỗ trợ y tế gắn liền với chỉ số giá tiêu dùng, duy trì mức hưởng bằng 120% đến 150% mức chuẩn cứu trợ xã hội địa phương, áp dụng công nghệ số để kiểm soát rủi ro trục lợi bảo hiểm xuống dưới 1% tổng chi quỹ.

Thứ năm, đối với Việt Nam, khi triển khai bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2009, cơ quan lập pháp và quản lý an sinh cần thiết lập ngay cơ chế đóng góp ba bên gồm người lao động 1%, người sử dụng lao động 1% và ngân sách hỗ trợ 1%, đồng thời gắn chặt khâu chi trả với mạng lưới trung tâm giới thiệu việc làm công lập để tránh rơi vào bẫy trợ cấp thụ động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng đa dạng cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và các cơ quan tham mưu an sinh. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội, thiết kế quy trình thu chi quỹ và mô hình liên thông ba tuyến bảo đảm.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Châu Á học, Đông phương học, Quản lý công, Kinh tế phát triển và Luật học. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo học thuật hệ thống về quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế - xã hội của Trung Quốc giai đoạn 1992-2008.

Thứ ba, các chuyên gia tư vấn nhân sự, ban lãnh đạo doanh nghiệp và tổ chức công đoàn. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các bài học về xử lý lao động dôi dư, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm theo đúng khung pháp lý.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lao động Quốc tế, Ngân hàng Phát triển Châu Á và các viện nghiên cứu chính sách xã hội, phục vụ các dự án khảo sát, đánh giá so sánh hệ thống an sinh xã hội giữa các nền kinh tế đang chuyển đổi tại khu vực Châu Á.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm bảo hiểm chờ việc giai đoạn trước năm 1993 khác bảo hiểm thất nghiệp sau năm 1999 như thế nào?

Giai đoạn trước năm 1993, thuật ngữ bảo hiểm chờ việc được sử dụng do quan niệm kinh tế kế hoạch không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, phạm vi chỉ áp dụng hạn hẹp cho 4 nhóm công nhân viên chức quốc doanh. Đến Điều lệ năm 1999, thuật ngữ bảo hiểm thất nghiệp được chính thức hóa, mở rộng sang 7 nhóm đối tượng bao gồm toàn bộ khu vực doanh nghiệp tư nhân, tập thể và có vốn đầu tư nước ngoài.

Cơ cấu đóng góp tài chính của quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Điều lệ năm 1999 được quy định ra sao?

Quỹ được cấu thành từ 4 nguồn chính: người sử dụng lao động đóng 2% tổng quỹ lương, người lao động đóng 1% mức lương cá nhân, khoản hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước khi quỹ thâm hụt và phần lãi sinh ra từ hoạt động gửi ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ. Người lao động có hợp đồng tuyển dụng từ nông thôn không phải đóng phí cá nhân.

Mô hình Ba tuyến bảo đảm an sinh xã hội của Trung Quốc vận hành trên thực tế như thế nào?

Mô hình thiết lập 3 tầng bảo vệ liên hoàn: Tuyến 1 là trung tâm dịch vụ tái tạo việc làm của doanh nghiệp bảo đảm sinh hoạt cho lao động mất việc tối đa 3 năm; Tuyến 2 là cơ quan bảo hiểm thất nghiệp chi trả trợ cấp từ 12 đến 24 tháng nếu người lao động vẫn chưa có việc làm; Tuyến 3 là chế độ bảo đảm mức sống tối thiểu đô thị do ngành dân chính cứu trợ cho các hộ gia đình có thu nhập bình quân dưới chuẩn nghèo.

Tại sao việc phân cấp dự trù quỹ ở cấp huyện và thành phố lại là rào cản lớn của hệ thống bảo hiểm thất nghiệp Trung Quốc?

Việc phân cấp quá nhỏ khiến nguồn quỹ bị chia cắt thành hàng nghìn đơn vị độc lập, làm mất đi tính chia sẻ rủi ro quy mô lớn. Các khu vực công nghiệp nặng có tỷ lệ thất nghiệp cao thường bị cạn kiệt quỹ dự phòng, trong khi các thành phố thương mại phát triển lại dư thừa kết dư hàng tỷ Nhân dân tệ mà không thể điều tiết chi viện cho nhau.

Luận văn mang lại bài học kinh nghiệm then chốt nào cho việc xây dựng bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam năm 2009?

Nghiên cứu chỉ ra 3 bài học lớn: cần mở rộng diện bao phủ bắt buộc ngay từ đầu cho mọi thành phần kinh tế; thiết lập cơ chế quản trị quỹ tập trung tối thiểu ở cấp tỉnh để bảo đảm an toàn tài chính; và bắt buộc phải gắn kết chi trả trợ cấp tiền mặt với đào tạo nghề bắt buộc nhằm nhanh chóng đưa người thất nghiệp tái hòa nhập thị trường lao động.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện lộ trình chuyển biến chính sách từ bảo hiểm chờ việc sang chế độ bảo hiểm thất nghiệp hiện đại tại Trung Quốc từ mốc lịch sử 1992 đến năm 2008.
  • Khẳng định thành tựu mở rộng độ bao phủ đạt 116,45 triệu người và vai trò điều tiết xã hội giúp kiềm chế tỷ lệ thất nghiệp đô thị quanh mức 4,0% đến 4,2%.
  • Chỉ rõ các hạn chế cốt lõi về cấp độ quản lý quỹ phân tán ở cấp huyện/thị và khoảng trống bảo vệ đối với 490 triệu lao động nông thôn.
  • Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tái tạo việc làm và thống nhất điều phối quỹ cấp tỉnh định hướng đến năm 2015.
  • Cung cấp khung tham chiếu kinh nghiệm quý báu cho quá trình triển khai chính thức Luật Bảo hiểm xã hội và chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam từ năm 2009.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để tiếp cận hệ thống dữ liệu phân tích chuyên sâu và các bài học kinh nghiệm thể chế an sinh giá trị.