đặt vấn đề Việt Nam có nên hay không đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp khi xây dựng luật bảo hiểm xã hội. Cũng từ góc độ luật pháp, Lê Thị Hoài Thu (2008) đã nghiên cứu sâu hơn về vai trò và sự cần thiết phải xây dựng hệ thống luật pháp bảo hiểm thất nghiệp trong cuốn Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam [24]. Tác giả cho rằng, để bảo đảm cho ngƣời thất nghiệp có khoản thu nhập bù đắp một phần đã mất do không có việc làm, để ổn định cuộc sống, tiếp tục tìm việc làm không chỉ là hoạt động kinh tế xã hội, mà về mặt pháp lý còn là trách nhiệm của nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động và bản thân ngƣời lao động. Việc xây dựng hành lang pháp lý của bảo hiểm thất nghiệp sẽ tạo thuận lợi giải quyết yêu cầu thực tiễn về thất nghiệp, chống thất nghiệp và bảo đảm quyền lợi của ngƣời thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trong mấy năm gần đây ở Việt Nam. Bảo hiểm thất nghiệp ra đời đã đáp ứng nhu cầu của hầu hết ngƣời lao động, chủ sử dụng lao động và hỗ trợ của nhà nƣớc. Tuy nhiên, do bảo hiểm thất nghiệp ra đời trong điều kiện kinh tế khó khăn và do mới đi vào triển khai, bảo hiểm thất nghiệp không tránh khỏi nhiều hạn chế và lỗ hổng. Cho nên, bảo hiểm thất nghiệp cần phải đƣợc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình ở Việt Nam và trên thế giới, phát huy tối đa vai trò của bảo hiểm thất nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội.
Đó là nhận định của Phạm Đình Thành (2010) trong Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp- vấn đề đặt ra và giải pháp [22]; Phạm Thị Tuyết Vi (2012) trong Kiến nghị sửa đổi, bổ sung về bảo hiểm thất nghiệp [33].01 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 Do chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam mới hình thành từ năm 2009 nên số lƣợng tài liệu nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế và mới chỉ là những đánh giá bƣớc đầu về hiện trạng triển khai bảo hiểm thất nghiệp trong mấy năm đầu hình thành. Đó cũng là hạn chế lớn khiến nghiên cứu sinh khó có thể đánh giá và đƣa ra gợi mở chính sách đối với sự phát triển của bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam. Do vậy, trong phần này, nghiên cứu sinh xuất phát từ góc độ đánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, đồng thời so sánh chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam và Trung Quốc, để từ đó đƣa ra gợi mở chính sách một cách hợp lý. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI 1.
Tại Trung Quốc Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc ra đời muộn hơn các hình thức bảo hiểm khác. Mãi sau những năm 1990, những nghiên cứu của học giả Trung Quốc về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp mới xuất hiện nhiều cùng với các bƣớc cải cách và phát triển của chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Những nghiên cứu về bảo hiểm thất nghiệp nhìn chung chia làm bốn nhóm sau: Thứ nhất, nghiên cứu bảo hiểm thất nghiệp dưới góc độ là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp có mối tƣơng quan và bình đẳng với các chế độ khác trong hệ thống an sinh xã hội, đồng thời thể hiện vai trò của an sinh xã hội.
Đó là một mạng lƣới an toàn để ổn định và hài hòa xã hội, là một chế độ kinh tế xã hội quan trọng của quốc gia hiện đại và là tiêu chí quan trọng của tiến bộ và văn minh xã hội. Do đó, cần mở rộng phạm vi ảnh hƣởng tích cực của bảo hiểm thất nghiệp đối với ngƣời lao động nói riêng và đời sống xã hội nói chung, tạo nền tảng xã hội công bằng và ổn định. Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đáng chú ý có: Lý luận và thực tiễn cải cách thể chế an sinh xã hội của Trung Quốc thời kỳ mới của Đa Cát Tài Nhƣợng (1995) [91]; Khái quát về an sinh xã hội hiện đại của Lữ Học Tịnh (2005) [128]; Khái quát về an sinh xã hội của Trịnh Công Thành (2005) [192]; Nghiên cứu an sinh xã hội của Quách Sỹ Trƣng (2005) [103]; Cải cách chế độ an sinh xã hội của Trung Quốc của Tống Hiểu Ngô (2001) [152]; Lý luận và thực tiễn về an sinh xã hội của Lƣu Quân (2005) [122].01 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 Nếu coi chế độ an sinh xã hội là ―vũ khí giảm chấn động‖ nhằm hóa giải mâu thuẫn xã hội, vậy thì trong tất cả các hạng mục an sinh xã hội, chế độ bảo đảm mức sống tối thiểu và chế độ bảo hiểm thất nghiệp thể hiện rõ nhất chức năng ―giảm áp lực‖ đó. Đó là quan điểm của Ngô Minh (2009) khi viết “Đại quốc sách- chiến lược phát triển an sinh xã hội của Trung Quốc theo con đường nước lớn”[170].
Theo tác giả, giữa hai chế độ này có mối quan hệ mật thiết trong việc hóa giải các mâu thuẫn xã hội. Bởi lẽ, hai chế độ này đều đề cập tới nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội, rất nhiều ngƣời có hoàn cảnh khó khăn cần đƣợc cứu trợ là ngƣời thất nghiệp, mà một bộ phận lớn là thanh niên. Vì thế, ngoài vai trò bảo đảm quyền sinh tồn của công dân, chế độ bảo đảm mức sống tối thiểu và chế độ bảo hiểm thất nghiệp còn có nhiệm vụ quan trọng không kém là giảm bớt áp lực về mâu thuẫn xã hội. Bàn về mối quan hệ giữa việc Trung Quốc gia nhập WTO với cải cách chế độ an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng là nội dung bài viết Cải cách chế độ an sinh xã hội của Trung Quốc thời hậu WTO của Dƣơng Nghị Dũng và Hình Vĩ (2007) [11].
Theo các tác giả, gia nhập WTO đƣa đến thách thức nhiều hơn cơ hội phát triển hệ thống an sinh xã hội của Trung Quốc. Nhiều vấn đề xã hội lạc hậu ở Trung Quốc khiến hệ thống an sinh xã hội chậm tiến và có sự chênh lệch khá lớn so với yêu cầu của WTO. Nhiệm vụ cải cách đó là giải quyết các vấn đề chậm tiến của xã hội và của hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc. Mặt hạn chế của hƣớng nghiên cứu này là chƣa chỉ ra vai trò và vị trí của chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống an sinh xã hội, chƣa tìm ra những giải pháp thúc đẩy phát triển chế độ này nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội.
Thứ hai, nghiên cứu bảo hiểm thất nghiệp trong mối quan hệ với lao động, việc làm và thất nghiệp. Thất nghiệp và việc làm là những vấn đề có liên quan mật thiết tới bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng. Vai trò và trách nhiệm của bảo hiểm thất nghiệp đƣợc các học giả đánh giá và nhìn nhận hết sức nghiêm túc trong việc thúc đẩy việc làm, tạo ra thị trƣờng việc làm ổn định và bình đẳng. Năm 1998, khi viết cuốn Nhóm người thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp [75], tác giả Thái Hòa (1998) đã chứng mình rằng, mục tiêu căn bản của bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc chính là xúc tiến việc làm.
Bàn về vấn đề này có công trình Chế độ bảo hiểm thất nghiệp và tạo việc 10 (LUAN.01 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 làm ở Trung Quốc của Quách Tùng Sơn (2008) [104]. Tác giả đƣa ra nhiều phân tích và nhận định về tầm quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp đối với việc thúc đẩy tạo việc làm. Trong nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng, bên cạnh việc bảo đảm đời sống cơ bản của ngƣời thất nghiệp, việc kết hợp với công tác khuyến khích tạo việc làm đƣợc coi là con đƣờng phát triển chế độ bảo hiểm thất nghiệp phù hợp với tình hình mới ở Trung Quốc hiện nay. Nhóm tác giả Trần Giai Quý, Thái Phƣởng (2008) lại bàn về chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong mối quan hệ thị trƣờng hóa việc làm trong Nghiên cứu 30 năm cải cách chế độ lao động và an sinh xã hội ở Trung Quốc [77].
Trong đó, nhóm tác giả phân tích mối quan hệ giữa bảo đảm thất nghiệp và chính sách việc làm tích cực, sự bất bình đẳng trong bảo hộ thị trƣờng lao động dẫn tới việc phân phối không công bằng việc làm cho ngƣời lao động. Do đó, bảo hiểm thất nghiệp phải kết nối hiệu quả với các chế độ khác trong hệ thống an sinh xã hội để tạo ra các lớp lƣới an toàn bảo vệ ngƣời lao động. Hồ Hiểu Nghĩa (2009) trong cuốn 60 năm phát triển an sinh xã hội của Trung Quốc hướng tới hài hòa [110] đã khẳng định, chức năng của bảo hiểm thất nghiệp cần nhấn mạnh hơn tới nhiệm vụ phòng ngừa và kiểm soát thất nghiệp, xây dựng cơ chế báo cáo giám sát trọng điểm động thái thất nghiệp. Mặt khác, để giảm bớt áp lực thất nghiệp, nhà nƣớc tích cực bố trí công việc cho lao động thuộc doanh nghiệp nhà nƣớc phá sản theo chính sách.
Vấn đề việc làm đƣợc Chính phủ Trung Quốc coi là ―quốc kế dân sinh‖. Ngoài những biện pháp kinh tế thúc đẩy việc làm, bảo hiểm thất nghiệp cũng đƣợc coi là một trong những biện pháp xã hội góp phần mở rộng việc làm, giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp. Nhìn chung, các nghiên cứu về chức năng việc làm của bảo hiểm thất nghiệp khá đa dạng và đầy đủ nhƣng chƣa xây dựng các vấn đề một cách hệ thống cũng nhƣ chƣa vạch ra những hƣớng giải quyết cụ thể. Thứ ba, nghiên cứu vai trò của quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc phần lớn đƣợc hình thành từ sự đóng góp của doanh nghiệp, ngƣời lao động và hỗ trợ của nhà nƣớc. Quỹ có nhiệm vụ chủ yếu là giúp đỡ vật chất đối với ngƣời thất nghiệp và giúp họ tìm lại việc làm bằng các biện pháp 11 (LUAN.01 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.01 thúc đẩy việc làm. Do vậy, quỹ bảo hiểm thất nghiệp có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển của chế độ này. Tuy nhiên, hiện nay, cơ cấu quỹ phân bổ chƣa hợp lý, chƣa chú trọng đầu tƣ nhiều cho công tác đào tạo và thúc đẩy việc làm, vẫn tập trung chủ yếu vào việc cứu trợ thất nghiệp nhƣng mức hƣởng lại thấp, khó đáp ứng nhu cầu cuộc sống cơ bản của ngƣời thất nghiệp.