Luận Án Tiến Sĩ Về Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Và Giá Trị Tham Chiếu Cho Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và giá trị tham chiếu cho Việt Nam trong bối cảnh chính trị hiện đại.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

215
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Ở Việt Nam

Chế định nguyên thủ quốc gia là một phần quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Nó không chỉ thể hiện vai trò lãnh đạo của người đứng đầu nhà nước mà còn phản ánh sự phát triển của thể chế chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc nghiên cứu chế định này giúp hiểu rõ hơn về quyền lực và trách nhiệm của nguyên thủ quốc gia trong việc xây dựng và phát triển đất nước.

1.1. Khái Niệm Về Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia

Chế định nguyên thủ quốc gia được định nghĩa là cơ chế tổ chức và hoạt động của người đứng đầu nhà nước. Nó bao gồm các quyền hạn, trách nhiệm và vai trò của nguyên thủ trong hệ thống chính trị.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia

Lịch sử phát triển chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam gắn liền với các giai đoạn lịch sử quan trọng. Từ thời kỳ kháng chiến đến hiện tại, chế định này đã trải qua nhiều thay đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

II. Những Thách Thức Đối Với Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Tại Việt Nam

Chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như sự thiếu rõ ràng trong quyền lực, trách nhiệm của nguyên thủ và sự kiểm soát quyền lực là những điểm cần được cải thiện. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước.

2.1. Thiếu Rõ Ràng Trong Quyền Lực Của Nguyên Thủ

Nhiều quy định về quyền lực của nguyên thủ quốc gia chưa được cụ thể hóa, dẫn đến sự mơ hồ trong việc thực thi quyền hạn. Điều này ảnh hưởng đến tính hiệu quả của chính phủ.

2.2. Vấn Đề Kiểm Soát Quyền Lực

Việc kiểm soát quyền lực của nguyên thủ quốc gia còn nhiều bất cập. Cần có cơ chế rõ ràng để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của người đứng đầu nhà nước.

III. Phương Pháp Hoàn Thiện Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả của chế định nguyên thủ quốc gia, cần có những phương pháp cải cách cụ thể. Việc tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia khác có thể giúp Việt Nam tìm ra giải pháp phù hợp.

3.1. Cải Cách Quy Định Pháp Lý

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp lý liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của nguyên thủ quốc gia để đảm bảo tính rõ ràng và minh bạch.

3.2. Tăng Cường Kiểm Soát Quyền Lực

Xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả hơn, bao gồm việc tăng cường vai trò của các cơ quan lập pháp và tư pháp trong việc giám sát hoạt động của nguyên thủ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia

Chế định nguyên thủ quốc gia không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc quản lý nhà nước. Việc thực hiện tốt chế định này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ.

4.1. Vai Trò Của Nguyên Thủ Trong Quản Lý Nhà Nước

Nguyên thủ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách và quản lý các vấn đề quốc gia. Sự lãnh đạo của nguyên thủ có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Chế Định Nguyên Thủ

Nghiên cứu về chế định nguyên thủ quốc gia đã chỉ ra nhiều điểm mạnh và yếu trong hoạt động của người đứng đầu nhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện.

V. Kết Luận Về Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Tại Việt Nam

Chế định nguyên thủ quốc gia là một phần không thể thiếu trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Việc hoàn thiện chế định này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Tương Lai Của Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia

Tương lai của chế định nguyên thủ quốc gia phụ thuộc vào khả năng cải cách và đổi mới của hệ thống chính trị. Cần có những bước đi cụ thể để nâng cao vai trò của nguyên thủ.

5.2. Giá Trị Tham Chiếu Từ Các Quốc Gia Khác

Việc tham khảo các giá trị từ chế định nguyên thủ quốc gia ở các quốc gia khác sẽ giúp Việt Nam có cái nhìn tổng thể và đa chiều hơn trong việc hoàn thiện chế định này.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ ngành chính trị học đề tài chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và những giá trị tham chiếu cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA Nguyên thủ quốc gia trong các nhà nước hiện đại thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc ra đời, cơ sở kinh tế-xã hội, cơ sở văn hóa, cách thức hình thành vai trò vị trí của NTQG trong BMNN. Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước) là nhân vật chính thức đại diện của một nhà nước thống nhất và hợp pháp.

Tùy thuộc vào hình thức chính phủ và sự phân chia quyền lực của quốc gia, NTQG có thể là người không thực quyền, thực hiện nghi lễ hoặc đồng thời là người đứng đầu chính phủ và có thể là người đại diện quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, (chẳng hạn như tổng thống Hoa Kỳ), thậm chí có thể vừa là người đứng đầu đảng chính trị duy nhất cầm quyền trong HTCT một đảng (Liên Xô trước đây, Trung Quốc, Tiều Tiên hiện nay). Ở nước ngoài NTQG (người đứng đầu nhà nước), được nghiên cứu nhiều từ lịch sử, định nghĩa, phân loại, vai trò, phương thức hình thành và các chế định của hiến pháp từng nước. Các công trình như: Kubicek, Paul (2015). ISBN 978-1-317-34853-5; Nicolaidis and Weatherill, ed.

"Whose Europe? National Models and the Constitution of the European Union". Archived from the original on 17 June 2015. Retrieved 23 December 2014; Gouvea, C. "The Managerial Constitution: The Convergence of Constitutional and Corporate Governance Models".

Freedom of speech: importing European and US constitutional models in transitional democracies. Archived from the original on 23 December 2014. Các nghiên cứu cho thấy, chế định NTQG ở mỗi mô hình, mỗi quốc gia là rất khác nhau. Theo các nghiên cứu đó, trong xã hội hiện đại có hai mô hình lớn: quân 9 chủ và cộng hòa.

Trong mỗi mô hình lớn đó, còn có các phiên bản nhỏ hơn, như mô hình quân chủ có quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến; trong mô hình cộng hòa có cồng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hóa hỗn hợp và cộng hòa XHCN. Chức năng, vai trò của các NTQG mặc dù có những điểm chung, nhưng biểu hiện cụ thể lại rất khác nhau và được chế định trong các hiến pháp quốc gia. Vai trò chung phổ biến là biểu tưởng cho quốc gia về sự thống nhất, liên tục của QLNN, cho chủ quyền quốc gia, cho sự đoàn kết quốc gia… Các nghiên cứu cũng chỉ ra những vai trò đặc thù, trước hết là do mô hình chính thể, sau đó có thể là do truyền thống lịch sử và văn hóa chính trị. Ví dụ: Điều hành chính phủ (đứng đầu hành pháp), đứng đầu hành pháp, nhưng không đứng đầu chính phủ, điều hành hạn chế, không điều hành.

Ngoài ra NTQG còn có một số thẩm quyền khác, như tiệu tập và giải tán cơ quan lập pháp trong cộng hòa nghị viện, ngoại giao (cử đại sứ và phê chuẩn các hiệp ước, công bố luật, trình dự án luật, trao tặng danh hiệu nhà nước… Matthew Shugart và John Carey (1992), Tổng thống và Nghị viện (Presidents and Assemblies); Albert P.Blaustein and Jay A.Sigler, Constitutions that made history copyright 1988 (Các bản hiến pháp làm nên lịch sử); Joseph W. Robbins, "Presidentialism versus Parliamentalism", in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science: A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011). Các tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa mô hình chính thể và chế độ bầu cử hình thành nên NTQG.

Trong trường hợp cộng hòa tổng thống, cử tri trong có khả năng xác định trước cơ cấu chính phủ và người đứng đầu chính phủ, có thể biết trước được ai sẽ là tổng thống, sẽ dẫn dắt chính phủ. Ngược lại, hệ thống đại nghị không rõ ràng như vậy vì cơ cấu chính phủ cuối cùng phụ thuộc vào cuộc đấu đá chính trị giữa các đảng chính trị hoặc liên minh các đảng chính trị. Các tác giả cũng phân tích các chế độ bầu cử đa số tuyệt đối và đa số tương đối và hệ quả của việc hình thành nên NTQG, mà theo hiến pháp là đại diện cho nhân dân. Các nghiên cứu cũng cho rằng, tính đại diên trong các chế độ đại nghị, hoặc chế độ tổng thống của NTQG có thể đặt ra vấn đề lựa chon mô hình chính thể cho một quốc gia.

10 Cuốn Nghiên cứu so sánh vai trò của NTQG trong chính thể cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống" (Comparative Study of the Role of the Head of State in Parliamentary and Presidential Systems of Government) của Mohd. Cuốn sách nghiên cứu về hai hình thức chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống và có đối chiếu so sánh về nguyên thủ quốc gia của các chính thể đó. Cuốn sách dành nghiên cứu về NTQG ở một số nước như Mỹ, Anh, Ấn độ… để có những so sánh, tìm ra sự khác biệt, những tương đồng về NTQG - vai trò, đặc điểm, các sử dụng quyền hạn của NTQG trong BMNN và với các thiết chế khác của BMNN. Đào Trí Úc, Cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình nguyên thủ quốc gia ở nước ta hiện nay [121].

Nguyễn Thị Quỳnh Giang, Một số nét mới về thể chế chính trị và BMNN một số quốc gia trên thể giới [39]. Tác giả phân tích mô hình vị trí nguyên thủ quốc gia trên thế giới hiện nay gắn liền với 3 loại mô hình chính thể: cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa hỗn hợp. Nguyễn Thị Quỳnh Giang, khi nghiên cứu mô hình và những biến đổi thể chế chính trị của 20 quốc gia điển hình về thể chế chính (gồm Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mianma, Iran, Ôman, UAE, SriLanka; Châu Âu: Pháp, Nga, Đức, Nauy, Ai-len; Châu Mỹ la tinh: Mỹ, Cu Ba, Nam Phi; Châu Úc: Oxtraylia) từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Qua nghiên cứu so sánh, tác giả đã đưa ra những đặc trưng cơ bản, khái quát những xu hướng biến đổi chế định NTQG trong các mô hình chính thể: Trong chế độ quân chủ chuyên chế, Quốc vương nắm thực quyền (Ô-man); trong các mô hình Quân chủ lập hiến, Vua hay Nữ hoàng chủ yếu mang tính tượng trưng quốc thể.

Đại diện điển hình cho mô hình quân chủ nghị viện là vương quốc Anh và các quốc gia trong khối Liên hiệp Anh. Tuy nhiên, ở Thái Lan, Vua Thái Lan không chỉ là người đại diện cho quốc gia mà còn mang tính chất tôn giáo (Phật giáo) và được người dân tôn thờ, chính vì vậy mà Vua Thái Lan đã có nhiều lần can dự vào chính trường tại quốc gia này. Đối với các nước duy trì chế độ cộng hòa đại nghị, trung tâm thực thi QLNN là Chính phủ. Trong cộng hòa lưỡng tính (hỗn hợp) QLNN được chia sẻ giữa Nghị viện và Tổng thống - NTQG, đứng đầu hành pháp, nhưng không đứng đầu Nội các.

Hoa Kỳ là quốc gia theo chính thể cộng hòa tổng thống điển hình và quyền lực của Tổng thống là trung tâm của 3 nhánh quyền lực quốc gia. 11 Tác giả Nguyễn Quỳnh Giang cũng đề cập đến chế định NTQG ở một số nước mang tính pha trộn, ít điển hình và cũng đã chỉ ra những đặc điểm của NTQG ở các nước đó, như: SriLan-ka, Iran và UAE, Cộng hòa Hồi giáo Iran… Qua nghiên cứu lịch sử biến đổi của chế định NTQG trên thế giới, các tác giả nêu trên cũng rút ra kết luận đáng chú ý là: Thứ nhất, chế định nguyên thủ quốc gia biến đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội, đáp ứng với yêu cầu hiệu lực, hiệu quả của BMNN, bất chấp chế độ chính trị được định danh trong Hiến pháp là mô hình chính thể nào (LB Nga, Hàn Quốc…). Thứ hai, trên thế giới, dù NTQG ở bất kỳ mô hình chính thể nào, thì các quốc gia có xu hướng tăng cường vai trò của cơ quan hành pháp. Vì vậy, nếu các NTQG đứng đầu hành pháp, thông thường được tăng cường quyền lực và là một chế định thực quyền.

Một trong những công trình nghiên cứu về mô hình chính thể, địa vị pháp lý, vị trí, vai trò của NTQG với quy mô khảo sát lớn phạm vi nghiên cứu rộng là công trình của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, (chủ biên, 2013), Thể chế chính trị - Một số kinh nghiệm của thế giới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Cuốn sách khái quát về 193 quốc gia trên thế giới ở 5 châu lục; nội dung đề cập tới người đứng đầu quốc gia gắn liền với hai mô hình chính thể nhà nước cơ bản đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa. Trong đó chính thể quân chủ có 43 nước, chính thể cộng hòa 149 nước. Trong chính thể cộng hòa có 49 nước chính thể cộng hòa tổng thống; 29 nước nghị viện, 51 nước lưỡng tính, hỗn hợp; 5 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chủ yếu tập chung ở Châu Á và Châu Mỹ (5 nước, gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên, Cu Ba).

Công trình cho thấy xu thế phổ biến là các nước theo mô hình cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp (lưỡng tính). Điều này nhìn nhận từ góc độ lịch sử cho thấy, việc lựa chọn mô hình NTQG, mà cơ sở của nó là mô hình chính thể, có tính quy luật nhất định, ảnh hưởng lẫn nhau, trước hết là các yếu tố kinh tế - xã hội của thời đại cách mạng tư sản ở các nước phương Tây, sau đó là tư duy chính trị của thời đại đó, được nêu trong các lý thuyết chính trị khai sáng, nhằm trao quyền dân chủ cho công dân, NNPQ, chủ nghĩa lập hiến và đòi hỏi về tính hiệu lực, hiệu quả của nhà nước. Cuốn sách cung cấp bức tranh toàn cảnh về các chính thể của các 12 quốc gia trên thế giới, theo đó là các chế định NTQG, là cơ sở lý luận và thực tiễn tin cậy để nghiên cứu về chế định NTQG của các nước trên thế. Nói về sự đa dạng các mô hình chế định NTQG, ngay chỉ trong khu vực ASEAN, công trình Thể chế chính trị và tổ chức BMNN các nước ASEAN của các tác giả đăng trên Tạp chí Khoa học pháp luật, số 05/2002, trên cơ sở phân tích thể chế chính trị và tổ chức bộ máy của 9 nước ASEAN (trừ Việt Nam), cho thấy vai trò vị, trí của NTQG ở khu vực rất khác nhau, từ quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp, cộng hòa XHCN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ