Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và những giá trị tham chiếu cho Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thủy được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phan Xuân Sơn tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2022), thuộc chuyên ngành Chính trị học, mã số 931 02 01. Luận án giải quyết một vấn đề vừa mang tính lý luận nền tảng của khoa học chính trị và luật học, vừa mang tính thực tiễn cấp bách trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước tại Việt Nam.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ rõ rằng sau hơn 35 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt Nam vẫn đối mặt với nguy cơ tụt hậu; bộ máy nhà nước còn bộc lộ những hạn chế như cồng kềnh, chồng chéo, hiệu lực và hiệu quả hoạt động chưa cao. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là Đại hội XI và Đại hội XIII, đã nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, đồng thời đặt ra yêu cầu nghiên cứu làm rõ vai trò nguyên thủ quốc gia của Chủ tịch nước.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định tại Việt Nam, thể chế chính trị liên quan trực tiếp đến nguyên thủ quốc gia chưa được đầu tư nghiên cứu tương xứng trên cả bình diện lý luận lẫn tổng kết thực tiễn. Các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước chủ yếu đề cập ở tầm chủ trương, đường lối chung; thuật ngữ "nguyên thủ quốc gia" chưa được định danh tường minh trong các bản Hiến pháp. Sau 30 năm thực hiện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và 10 năm triển khai Hiến pháp năm 2013, vị thế pháp lý của Chủ tịch nước vẫn bị nhiều chuyên gia đánh giá là thấp nhất trong hệ thống chính trị, nhiều thẩm quyền hiến định chưa được quy định chi tiết hoặc chưa từng được vận hành trên thực tế. Đồng thời, các nghiên cứu chính trị học kết hợp liên ngành về nguyên thủ quốc gia ở các nước chuyển đổi và các nước xã hội chủ nghĩa nhằm rút ra giá trị tham chiếu cho Việt Nam còn rất hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về chế định người đứng đầu nhà nước, nguyên thủ quốc gia ở các nước trên thế giới; đánh giá những điểm tương đồng, khác biệt, điểm mạnh và điểm yếu của từng mô hình chế định nguyên thủ quốc gia; từ đó đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chế định người đứng đầu nhà nước ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định người đứng đầu nhà nước trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.
- Phân tích chế định người đứng đầu nhà nước một số nước trên thế giới hiện nay qua lựa chọn một số mô hình nhà nước điển hình; khái quát những giá trị tham chiếu cho Việt Nam.
- Phân tích khái quát thực trạng chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam, đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp vận dụng những giá trị tham chiếu về chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới vào quá trình hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu: Chế định nguyên thủ quốc gia khác nhau trên thế giới có những đặc điểm, mô hình và dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn gì và có khả năng áp dụng một số giá trị tham chiếu của chế định này trên thế giới cho việc hoàn thiện chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam không?
Giả thuyết nghiên cứu: Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới có những đặc điểm, mô hình và cách tiếp cận rất khác nhau xuất phát từ điều kiện, bối cảnh của từng quốc gia và đặc điểm của chế định đặc biệt này, nhưng đồng thời nó cũng có những giá trị, đặc điểm chung do sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của các mô hình. Việt Nam có thể áp dụng một số giá trị tham chiếu chung và đặc thù của chế định này trên thế giới, nhưng cần phải dựa trên điều kiện, bối cảnh ở Việt Nam trong tương quan với chế định này trên thế giới. Nếu lựa chọn được một mô hình chế định phù hợp, chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam sẽ là một chế định đóng vai trò lớn hơn trong việc đại diện cho quốc gia, thống nhất quốc gia, phối hợp và kiểm soát tốt quyền lực nhà nước, phát huy tối đa sức mạnh của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về đối tượng nghiên cứu: Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tập trung nghiên cứu chế định nguyên thủ quốc gia ở một số mô hình chính thể tiêu biểu trên thế giới gồm cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị, cộng hòa hỗn hợp, quân chủ lập hiến, cộng hòa xã hội chủ nghĩa qua các trường hợp cụ thể là Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc; đồng thời nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam.
- Thời gian: Chủ yếu nghiên cứu chế định nguyên thủ quốc gia trong giai đoạn hiện nay, có kết hợp phân tích các khía cạnh lịch sử lập hiến để làm rõ nguồn gốc và tiến trình vận động của thiết chế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành tổng thuật một khối lượng lớn tài liệu học thuật trong và ngoài nước, phân chia thành ba nhóm công trình nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới:
- Các nghiên cứu quốc tế như Paul Kubicek (2015), Nicolaidis và Weatherill (2014), C. Gouvea (2014) làm rõ sự phân hóa giữa hai mô hình lớn là quân chủ và cộng hòa cùng các biến thể nhánh.
- Matthew Shugart và John Carey (1992) trong công trình Presidents and Assemblies, Albert P. Blaustein và Jay A. Sigler (1988) trong Constitutions that made history, Joseph W. Robbins (2011) với Presidentialism versus Parliamentalism đi sâu phân tích mối liên hệ tương tác giữa mô hình chính thể với chế độ bầu cử và tính đại diện của nguyên thủ quốc gia.
- Công trình so sánh của Mohd khảo cứu sự khác biệt về vai trò và cách thức sử dụng quyền hạn của nguyên thủ trong chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống qua các trường hợp Mỹ, Anh, Ấn Độ.
- Tại Việt Nam, GS.TS Tạ Ngọc Tấn (chủ biên, 2013) trong cuốn Thể chế chính trị - Một số kinh nghiệm của thế giới đã thống kê và phân loại thể chế của 193 quốc gia, cung cấp bức tranh toàn cảnh về sự phân bố của các chính thể quân chủ và cộng hòa. Nguyễn Thị Quỳnh Giang (nghiên cứu 20 quốc gia điển hình từ đầu thế kỷ XX đến nay) chỉ ra hai xu hướng biến đổi: chế định nguyên thủ thích ứng theo yêu cầu hiệu lực quản trị kinh tế - xã hội bất chấp tên gọi chính thể, và xu hướng gia tăng quyền lực cho nguyên thủ khi họ đứng đầu nhánh hành pháp. Công trình của Đào Trí Úc cũng xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho mô hình nguyên thủ quốc gia.
Nhóm thứ hai gồm các công trình về tổ chức, vận hành và cơ chế kiểm soát quyền lực nguyên thủ quốc gia:
- Về mô hình tổng thống thực quyền tại Mỹ: Christopher H. Pyle và Richard M. Corwin phân tích thẩm quyền hành pháp và sự tác động của nguyên tắc hiến pháp; Ralph Ketcham (nghiên cứu giai đoạn 1789-1829 qua 6 đời tổng thống từ Washington đến John Quincy Adams) nêu bật quan niệm phi đảng phái và vai trò đại diện trực tiếp cho nhân dân; M. Sidney Milkis (1993), Richard E. Neustadt (1991), Alan Wolfe, Robert J. Spitzer (nghiên cứu về quyền phủ quyết) đều chỉ ra bản chất và giới hạn quyền lực của tổng thống trong mối quan hệ với quốc hội và đảng phái.
- Về nguyên thủ ở các mô hình khác: Hubert Seipel (2017) khảo cứu quyền lực Tổng thống Nga Vladimir Putin; Andrew Gordon (2003) phân tích bước chuyển của Hoàng đế Nhật Bản từ vị trí chuyên chế quân phiệt sang biểu tượng quốc gia sau Hiến pháp năm 1947; Margit Tavits (2009) đánh giá cơ chế bầu cử tổng thống trực tiếp và gián tiếp trong chính thể đại nghị và hỗn hợp; John Gaffney (2012), Petra Schleiter và Edward Morgan-Jones (2009), Robert Elgie (2011), Steffen Ganghof (2017) nghiên cứu mô hình cộng hòa hỗn hợp của Pháp dưới Hiến pháp năm 1958; các tài liệu của Wenqi NG (2017), Istana (2019) làm rõ vai trò nghi lễ, cộng đồng và các thẩm quyền hiến định đặc thù (như quyền phủ quyết tài chính, nhân sự cấp cao) của Tổng thống Singapore.
- Về nguyên thủ các nước xã hội chủ nghĩa: Các công trình của Đỗ Tiến Sâm và Hoàng Thế Anh (2014), Arthur Kroeber (2016), Roderick MacFarquhar (2015), Jiwei Ci (2019) nghiên cứu về cải cách thể chế của Trung Quốc và sự kết hợp chức danh Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước dưới thời Tập Cận Bình.
- Về cơ chế kiểm soát quyền lực: Nguyễn Đăng Dung (2005), Trịnh Thị Xuyến (2008), Thái Vĩnh Thắng (2011), Trần Ngọc Đường, Cao Anh Đô phân tích cơ chế giới hạn và phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong và bên ngoài theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền.
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về thực trạng và yêu cầu hoàn thiện chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam:
- Các nghiên cứu của Đào Trí Úc, Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Mạnh (2010), Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn, Lê Minh Thông, Hoàng Thị Hạnh (2011), Nguyễn Sinh Hùng, Trịnh Quốc Toản, Đặng Minh Tuấn (2016), Viện Khoa học pháp lý, Đỗ Minh Khôi (2014), Nguyễn Xuân Yêm (2016) phân tích cơ cấu bộ máy nhà nước qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.
- Các công trình của Bùi Xuân Đức (2004, 2005), Đỗ Tiến Dũng, Ngô Văn Minh, Uông Chu Lưu (2014), Cao Vũ Minh và Võ Phan Lê Nguyễn (2014), Nguyễn Sĩ Dũng (2017) đề xuất các giải pháp nâng cao vị trí, làm rõ thẩm quyền của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với hành pháp, tư pháp, thống lĩnh lực lượng vũ trang và kiến nghị xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Trước đây, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận chế định Chủ tịch nước dưới góc độ luật học thuần túy hoặc gắn với nhiệm vụ thi hành Hiến pháp năm 2013, thiếu góc nhìn chính trị học liên ngành sâu rộng; các công trình quốc tế chưa gắn kết việc so sánh nguyên thủ quốc gia với bối cảnh đặc thù của thể chế chính trị một đảng cầm quyền. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng việc khảo cứu toàn diện lý luận, so sánh các mô hình điển hình trên thế giới để rút ra hệ thống các giá trị tham chiếu phù hợp với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận: Luận án được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Đồng thời, tác giả vận dụng các lý thuyết hiện đại của khoa học chính trị về quyền lực nhà nước, lý thuyết phân chia và kiểm soát quyền lực, lý thuyết thể chế và chủ nghĩa lập hiến.
Về phương pháp luận: Luận án quán triệt phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét chế định nguyên thủ quốc gia trong sự vận động, phát triển và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa chính trị qua từng thời kỳ lịch sử. Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành giữa chính trị học, luật học và sử học; tiếp cận hệ thống và tiếp cận cấu trúc - chức năng.
Về các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Được sử dụng để xác định vị trí, vai trò, địa vị chính trị - pháp lý của nguyên thủ quốc gia trong tính chỉnh thể của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phân tích sự biến đổi của thiết chế này dưới tác động của các yếu tố môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa chính trị.
- Phương pháp phân tích cấu trúc - chức năng: Dùng để làm rõ các chức năng cơ bản của nguyên thủ quốc gia (đại diện, lập quy, điều hành, thống lĩnh lực lượng vũ trang, nghi lễ...), đánh giá tính ổn định và sự biến đổi chức năng trong từng mô hình cụ thể.
- Phương pháp so sánh: Được áp dụng để đối chiếu, làm rõ điểm tương đồng và khác biệt giữa các mô hình nguyên thủ quốc gia tại các nước có chính thể khác nhau (Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc) và với Việt Nam, tạo cơ sở thực nghiệm để lựa chọn các giá trị tham chiếu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng để phân tích các khái niệm, quy phạm pháp luật, văn kiện chính trị, tổng thuật tài liệu và tổng hợp thành các luận điểm, luận cứ khoa học.
- Phương pháp chuyên gia: Được thực hiện thông qua việc phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực chính trị học và luật học nhằm bổ trợ và kiểm chứng các luận điểm nghiên cứu.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Luận án khai thác hệ thống văn bản hiến pháp của nhiều quốc gia (Hiến pháp Mỹ, Hiến pháp Pháp năm 1958, Hiến pháp Nhật Bản năm 1947, Hiến pháp Singapore, Hiến pháp Thụy Điển năm 1975, Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978...); toàn bộ các bản Hiến pháp trong lịch sử Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013); các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Trung ương; dữ liệu thống kê từ các công trình khảo sát quốc tế và công trình của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (2013) về 193 quốc gia trên thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Nội dung chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chế định nguyên thủ quốc gia theo 3 tuyến nội dung: cơ sở lý luận - thực tiễn chung; tổ chức hoạt động và kiểm soát quyền lực; thực trạng và yêu cầu đổi mới chế định Chủ tịch nước tại Việt Nam.
Tác giả đánh giá rằng các nghiên cứu đi trước đã xác lập cơ sở tri thức quan trọng về nguồn gốc, bản chất và vai trò của người đứng đầu nhà nước. Tuy nhiên, phần lớn các công trình dừng lại ở góc độ luật học hoặc phân tích cục bộ từng quốc gia riêng lẻ, chưa có sự kết nối xuyên suốt giữa kinh nghiệm quốc tế với yêu cầu đổi mới thể chế tại Việt Nam từ góc độ khoa học chính trị. Trên cơ sở chỉ ra những vấn đề còn bỏ ngỏ, chương 1 xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục, đồng thời định hình rõ câu hỏi và giả thiết nghiên cứu của toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chế định nguyên thủ quốc gia
Chương 2 luận giải lịch sử hình thành, khái niệm, phân loại và các đặc điểm phổ biến của chế định nguyên thủ quốc gia.
Về lịch sử phát triển: Tác giả truy nguyên từ thời kỳ công xã nguyên thủy với chế độ mẫu hệ và phụ hệ, nơi hình thành "người đứng đầu cộng đồng" (tù trưởng, thủ lĩnh quân sự) nắm giữ quyền lực xã hội mang tính tự quản. Khi xã hội phân chia giai cấp và nhà nước sơ khai ra đời ở phương Đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ) và phương Tây (Hy Lạp, La Mã), người đứng đầu nhà nước xuất hiện dưới hình thức vua, hoàng đế trong chính thể quân chủ chuyên chế cha truyền con nối, kết hợp vương quyền với thần quyền. Tác giả phân tích thuật ngữ "nguyên thủ" bắt nguồn từ khái niệm "công dân số 1" của Julius Caesar và chế độ Principate do Octavian (Augustus) thiết lập tại La Mã cổ đại. Bước sang thời kỳ cận - hiện đại, thông qua các cuộc cách mạng tư sản (tiêu biểu là cách mạng Anh và Pháp năm 1789), chế độ quân chủ chuyên chế dần bị xóa bỏ hoặc chuyển hóa thành quân chủ lập hiến, đồng thời xác lập chính thể cộng hòa với nguyên thủ được hình thành bằng con đường bầu cử.
Về khái niệm: Luận án phân định rõ khái niệm "nguyên thủ quốc gia" (chủ thể cá nhân hoặc tập thể đứng đầu nhà nước, đại diện cho quốc gia về đối nội, đối ngoại) và "chế định nguyên thủ quốc gia" (hệ thống các quy phạm pháp luật, hiến định điều chỉnh vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của nguyên thủ).
Về phân loại và thống kê: Luận án trích dẫn số liệu khảo sát thực tế tại 193 quốc gia thuộc 5 châu lục để khái quát cơ cấu các mô hình chính thể trên thế giới:
| Hình thức chính thể |
Mô hình cụ thể |
Số lượng quốc gia |
Tỷ lệ (%) |
| Chính thể Quân chủ (Tổng số: 43 nước, 17,1%) |
Quân chủ tuyệt đối |
5 |
2,6% |
|
Quân chủ lập hiến (nghị viện) |
28 |
14,5% |
|
Khác (thuộc khối Thịnh vượng chung...) |
10 |
5,2% |
| Chính thể Cộng hòa (Tổng số: 149 nước, 82,9%) |
Cộng hòa tổng thống |
49 |
25,4% |
|
Cộng hòa lưỡng tính / bán tổng thống |
48 - 51 |
24,9% |
|
Cộng hòa đại nghị (nghị viện) |
29 |
15,0% |
|
Cộng hòa hỗn hợp |
3 |
1,6% |
|
Cộng hòa XHCN và dân chủ nhân dân |
5 - 6 |
3,1% |
Ghi chú: Dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu được trích dẫn trong văn bản luận án (GS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên và các tài liệu liên quan).
Dữ liệu cho thấy xu hướng áp đảo trên thế giới hiện nay là các mô hình cộng hòa tổng thống và cộng hòa lưỡng tính (chiếm trên 50%), nơi nguyên thủ quốc gia nắm giữ thực quyền và trực tiếp hoặc gián tiếp đứng đầu nhánh hành pháp.
Chương 3: Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới (từ thực tiễn của Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc)
Chương này đi sâu phân tích thực tiễn tổ chức và vận hành chế định nguyên thủ quốc gia tại 5 quốc gia đại diện cho các nhóm mô hình chính thể cơ bản:
- Nguyên thủ quốc gia có thực quyền:
- Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Cộng hòa tổng thống): Tổng thống là thiết chế trung tâm của bộ máy nhà nước, vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tổng thống do cử tri bầu gián tiếp qua đại cử tri đoàn, có nhiệm kỳ độc lập với Quốc hội, không chịu trách nhiệm chính trị trước Quốc hội và nắm quyền chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang. Quyền lực của Tổng thống được vận hành trong cơ chế kiềm chế và đối trọng nghiêm ngặt (checks and balances) với quyền phủ quyết luật, nhưng chịu sự kiểm soát về ngân sách và phê chuẩn nhân sự, điều ước từ Thượng viện.
- Cộng hòa Pháp (Cộng hòa lưỡng tính / bán tổng thống): Theo Hiến pháp năm 1958, quyền hành pháp được phân chia giữa Tổng thống và Thủ tướng (hành pháp hai đầu). Tổng thống do toàn dân bầu cử trực tiếp, giữ vị trí trung tâm quyền lực, có quyền giải tán Hạ viện và chỉ định Thủ tướng. Chính phủ vừa chịu trách nhiệm trước Quốc hội vừa chịu sự chi phối mạnh mẽ từ Tổng thống.
- Nguyên thủ quốc gia có quyền lực hình thức / biểu tượng:
- Nhật Bản (Quân chủ lập hiến): Dưới tác động của Hiến pháp năm 1947, Hoàng đế từ vị trí nắm quyền chuyên chế quân phiệt đã chuyển hóa thành "biểu tượng của Nhà nước và sự đoàn kết của nhân dân" (Điều 1). Mọi quyền hành pháp tối cao được trao cho Nội các do Thủ tướng đứng đầu (Điều 65, 66) và chịu trách nhiệm trước Nghị viện (Điều 67, 69). Hoàng đế chỉ thực hiện các chức năng nghi lễ nhà nước theo khuyến nghị và sự phê chuẩn của Nội các.
- Cộng hòa Singapore (Cộng hòa đại nghị theo mô hình Westminster): Quyền hành pháp thực tế thuộc về Thủ tướng và Nội các. Tuy nhiên, Tổng thống Singapore giữ một vị trí pháp lý đặc thù. Không chỉ đơn thuần mang tính nghi lễ, Tổng thống Singapore được trao quyền thực thi Hiến pháp quan trọng, nổi bật là quyền phủ quyết đối với các dự luật ngân sách, chi tiêu tài chính quốc gia và thẩm quyền phê duyệt hoặc từ chối bổ nhiệm các vị trí trọng yếu (Thẩm phán Tòa án tối cao, Tổng chưởng lý, Tổng kiểm toán, Tư lệnh quốc phòng, Giám đốc Cục Điều tra Hành vi Tham nhũng - CPIB). Ứng viên Tổng thống phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe theo Điều 19 Hiến pháp và không được là thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào tại thời điểm đề cử.
- Nguyên thủ quốc gia tại các nước xã hội chủ nghĩa:
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Chế định Chủ tịch nước được tổ chức gắn liền với cấu trúc thể chế một đảng cầm quyền. Luận án phân tích tiến trình cải cách thể chế từ sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (năm 1978) đến thời kỳ của Chủ tịch Tập Cận Bình. Thực tiễn Trung Quốc xác lập mô hình nhất thể hóa giữa chức danh Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch nước, giúp thống nhất cao độ giữa ý chí chính trị của đảng cầm quyền với việc thực thi pháp luật của nhà nước.
Từ việc phân tích 5 quốc gia, tác giả rút ra các nhận định tổng quát: vai trò của nguyên thủ quốc gia phụ thuộc chặt chẽ vào mô hình chính thể, truyền thống lịch sử và văn hóa chính trị; xu thế chung của thế giới là củng cố năng lực quản trị hành pháp và thiết lập cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực tương ứng.
Chương 4: Chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam và những gợi mở tham chiếu
Chương 4 tập trung làm rõ thực trạng chế định nguyên thủ quốc gia tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và đề xuất các giá trị tham chiếu:
Về tiến trình lịch sử: Luận án phân tích sự biến đổi của chế định nguyên thủ quốc gia qua các bản Hiến pháp:
- Hiến pháp năm 1946: Thiết kế chế định Chủ tịch nước mang dáng dấp của mô hình cộng hòa lưỡng tính do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng, Chủ tịch nước có thẩm quyền mạnh, vừa đứng đầu nhà nước vừa lãnh đạo Chính phủ, không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhân dân ngoại trừ tội phản quốc.
- Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013: Chế định người đứng đầu nhà nước có sự điều chỉnh linh hoạt từ chế định cá nhân sang nguyên thủ tập thể (Hội đồng Nhà nước theo Hiến pháp năm 1980 mô phỏng theo mô hình Xô Viết), sau đó quay trở lại chế định cá nhân Chủ tịch nước từ Hiến pháp năm 1992.
- Theo Điều 86 Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, luận án chỉ rõ vị thế pháp lý của Chủ tịch nước hiện nay chưa thực sự tương xứng; các thẩm quyền về thống lĩnh lực lượng vũ trang (Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh), tham gia vào quy trình lập pháp, tư pháp và hành pháp còn mang tính phối hợp chung, thiếu các quy định chi tiết để phát huy thực quyền.
Về các giá trị tham chiếu: Tác giả đề xuất các gợi mở khoa học cho Việt Nam gồm:
- Vận dụng hạt nhân hợp lý từ mô hình nguyên thủ thực quyền và bán tổng thống nhằm làm rõ vị thế độc lập tương đối của Chủ tịch nước trong tương quan với Quốc hội và Chính phủ.
- Tham khảo kinh nghiệm kiểm soát quyền lực và quyền phủ quyết có giới hạn đối với các văn bản pháp luật hoặc quyết định nhân sự quan trọng (như mô hình Singapore).
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý thông qua việc cụ thể hóa quyền thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân và quyền hạn trong lĩnh vực đối ngoại.
- Nghiên cứu khả năng xây dựng đạo luật riêng về Chủ tịch nước (Luật về hoạt động của Chủ tịch nước) để quy định rõ ràng trách nhiệm, quy trình thực thi thẩm quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực của người đứng đầu Nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện các vấn đề lý luận cơ bản về nguyên thủ quốc gia và chế định nguyên thủ quốc gia dưới góc độ khoa học chính trị và luật học; phân tích nguồn gốc lịch sử từ thời kỳ công xã nguyên thủy qua thời kỳ cổ - trung đại đến nhà nước hiện đại.
- Cung cấp khung phân tích so sánh chi tiết giữa các mô hình chính thể lớn trên thế giới (quân chủ tuyệt đối, quân chủ lập hiến, cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị, cộng hòa hỗn hợp, cộng hòa xã hội chủ nghĩa), chỉ ra các quy luật biến đổi và mối quan hệ giữa thể chế chính trị, chế độ bầu cử với địa vị pháp lý của nguyên thủ.
Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Luận án cung cấp các luận chứng, luận cứ khoa học để nhận diện chính xác những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của chế định Chủ tịch nước tại Việt Nam hiện hành.
- Khái quát hệ thống giá trị tham chiếu có tính khả thi từ thực tiễn quốc tế, đề xuất các quan điểm và định hướng đổi mới chế định Chủ tịch nước phù hợp với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể, bao gồm việc hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa Chủ tịch nước với các nhánh quyền lực nhà nước, kiện toàn Hội đồng Quốc phòng và An ninh, xác lập rõ thẩm quyền đối nội, đối ngoại và tạo lập hành lang pháp lý thông qua việc nghiên cứu xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo cứu thực tiễn sâu vào 5 quốc gia điển hình (Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc). Do sự phong phú và phức tạp của các biến thể thể chế trên thế giới, công trình chưa thể bao quát toàn bộ các nền chính trị chuyển đổi khác ở Đông Âu, Trung Á hay châu Mỹ Latinh. Đồng thời, việc tiếp cận tài liệu về cơ chế vận hành nội bộ của một số nước xã hội chủ nghĩa còn có những rào cản nhất định về nguồn thông tin chính thức.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án xác định cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp cụ thể giữa chức danh Chủ tịch nước với cơ quan lập pháp (Quốc hội) và cơ quan hành pháp cao nhất (Chính phủ) trong quy trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia.
- Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa chế định Chủ tịch nước với cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII.
- Tiếp tục khảo sát, luận giải sâu hơn về mô hình tổ chức bộ máy giúp việc cho nguyên thủ quốc gia (như Văn phòng Chủ tịch nước) nhằm bảo đảm hiệu lực tham mưu và thực thi quyền hạn trên thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Luật Hiến pháp, Lý luận Nhà nước và Pháp luật tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.
- Các cơ quan nghiên cứu lý luận, cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng và Nhà nước, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chủ tịch nước trong quá trình tổng kết thực tiễn thi hành Hiến pháp, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung thể chế và tinh gọn bộ máy nhà nước.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là Chương 3 (phân tích so sánh chi tiết cơ chế vận hành quyền lực của 5 quốc gia điển hình) và Chương 4 (hệ thống hóa các giai đoạn lập hiến của Việt Nam cùng các đề xuất hoàn thiện chế định Chủ tịch nước).
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "Nguyên thủ quốc gia" có được quy định trực tiếp trong Hiến pháp Việt Nam không?
Trong các bản Hiến pháp của Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), cụm từ "nguyên thủ quốc gia" chưa từng được định danh trực tiếp trong văn bản. Tuy nhiên, bản chất của thiết chế này được xác định rõ tại Điều 86 Hiến pháp năm 2013: "Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại". Gần đây, một số văn bản chính thức của Đảng, đặc biệt là tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, đã khẳng định rõ "Chủ tịch nước với vai trò là nguyên thủ quốc gia".
2. Theo số liệu khảo sát được luận án trích dẫn, mô hình chính thể nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trên thế giới?
Theo công trình của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (2013) khảo cứu 193 quốc gia được luận án dẫn chiếu, chính thể cộng hòa chiếm ưu thế tuyệt đối với 149 nước (82,9%), trong khi chính thể quân chủ có 43 nước (17,1%). Trong các nước cộng hòa, hai mô hình chiếm tỷ lệ cao nhất là cộng hòa tổng thống với 49 nước (25,4%) và cộng hòa lưỡng tính/hỗn hợp với 48-51 nước (khoảng 24,9%). Tổng cộng hai mô hình này chiếm trên 50% số quốc gia trên thế giới.
3. Tổng thống Singapore có những quyền hạn đặc thù nào khác biệt so với nguyên thủ của các nước cộng hòa đại nghị thông thường?
Mặc dù Singapore theo chính thể cộng hòa đại nghị mô phỏng hệ thống Westminster, Tổng thống Singapore không hoàn toàn chỉ giữ vai trò nghi lễ mà còn được Hiến pháp trao quyền thực thi quyền lực cụ thể gồm: quyền phủ quyết đối với các dự luật ngân sách và thu chi tài chính quốc gia; quyền phê chuẩn hoặc từ chối bổ nhiệm các vị trí trọng yếu của nhà nước (Thẩm phán Tòa án tối cao, Tổng chưởng lý, Tổng kiểm toán, Chỉ huy trưởng Lực lượng Quốc phòng, Giám đốc CPIB). Ngoài ra, Điều 19 Hiến pháp Singapore đặt ra tiêu chuẩn ứng viên tổng thống không được là thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào tại thời điểm đề cử.
4. Mô hình tổ chức chế định nguyên thủ quốc gia của Cộng hòa Pháp theo Hiến pháp năm 1958 có đặc trưng gì?
Nền Cộng hòa thứ V của Pháp là hình mẫu tiêu biểu của chính thể cộng hòa lưỡng tính. Quyền hành pháp được chia sẻ giữa Tổng thống và Thủ tướng. Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra, là trung tâm quyền lực, không chịu trách nhiệm chính trị trước Quốc hội trong thời gian tại vị, có quyền giải tán Hạ viện và quyền bổ nhiệm Thủ tướng. Chính phủ chịu trách nhiệm đồng thời trước cả Quốc hội và trước Tổng thống.
5. Luận án xác định nguyên nhân sâu xa nào khiến xu hướng quân chủ chuyên chế tập quyền tồn tại bền vững trong lịch sử phong kiến phương Đông và Việt Nam?
Luận án phân tích rằng ở phương Đông cổ - trung đại, ruộng đất thuộc sở hữu tối cao của nhà nước và hoàng đế, tạo cơ sở kinh tế cho sự tập quyền cao độ. Riêng tại Việt Nam, suốt thời kỳ lịch sử trung đại, nhà nước thường xuyên phải đối mặt với hai nhiệm vụ trọng yếu sống còn là liên tục chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập và tổ chức trị thủy, đắp đê ngăn lũ, chế ngự thiên tai. Các nhiệm vụ này đòi hỏi sự thống nhất ý chí và tập trung quyền lực cao độ vào người đứng đầu nhà nước để tổ chức huy động nguồn lực quốc gia.
Kết luận
Luận án "Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và những giá trị tham chiếu cho Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Chính trị học, giải quyết một cách có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn về thiết chế người đứng đầu nhà nước. Bằng phương pháp so sánh liên ngành, luận án đã làm rõ cấu trúc quyền lực của các mô hình nguyên thủ quốc gia tiêu biểu từ Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Singapore đến Trung Quốc, từ đó đúc kết những giá trị tham chiếu khoa học đối với Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ tin cậy, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, hoàn thiện địa vị pháp lý của Chủ tịch nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.