Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng về chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Lào – Chi nhánh XiengKhoang Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Lào – Chi nhánh XiengKhoang. 4 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Luật các tổ chức tín dụng (2013) nước CHDCND Lào“ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp TD khác”. Trong đề án này tác giả nghiên cứu cấp tín dụng NHTM trên phương diện nghiệp vụ cho vay. Vậy: Tín dụng NHTM là quan hệ vay mượn phát sinh từ việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân, dân cư với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Nghiên cứu tín dụng trên góc độ nền kinh tế thì tín dụng “là sự vận động vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu”. Theo quan điểm (2), nếu xét phạm vi hệ thống NHTM thì mỗi NHTM là “khách hàng” vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò người cho vay trên thị trường liên ngân hàng nhằm điều hòa vốn. Tín dụng NH là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau giữa các NHTM nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của chính mình và đảm bảo an toàn theo quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng, trong đó NHTM này chuyển nhượng cho NHTM khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Vai trò của hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 5 Đối với Ngân hàng - Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản, truyền thống của Ngân hàng thương mại.
- Hoạt động tín dụng góp phần đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng mở rộng đối tượng và phạm vi đầu tư, từ đó giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với khách hàng Khách hàng muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì khách hàng phải vay vốn của Ngân hàng. Nhưng khách hàng chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ Ngân hàng khi khách hàng tiêu thụ được hết số sản phẩm hàng hoá đó sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những người tiêu dùng mua và có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía người tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn.
Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của khách hàng bị ngưng trệ. Khách hàng sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó Ngân hàng cho vay là giải pháp có lợi đôi bên.
Ngân hàng cho khách hang vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. Ngân hàng cho người tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Như vậy hoạt động cho vay của Ngân hàng đã góp phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế. Đối với nền kinh tế Nhờ có hoạt động cho vay của Ngân hàng mà chất lượng cuộc sống của dân cư được nâng cao, cùng với hoạt động tài trợ cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho bộ phận dân cư, góp phần ổn định đời sống của nhân dân.
Các chính sách xã hội về bản chất được đáp ứng bởi nguồn tài trợ không hoàn lại từ ngânsách Nhà nước, song 6 phương thức tài trợ không hoàn lại này thường bị hạn chế về số lượng, quy mô và hiệu quả kém. Chính vìnguyên nhân này mà phương thức tài trợ có hoàn lại của hoạt động cho vay sẽ thay thế phương thức này bởi phương thức có hoàn lại vừa đảm bảo được cung ứng nguồn tài chính vừa phát huy hiệu quả sử dụng vốn.Các hình thức tín dụng của ngân hàng Căn cứ vào mục đích Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng KH được chia làm các loại: - Tín dụng phục vụ SXKD công - thương nghiệp - Tín dụng mua bán bất động sản - Tín dụngsản suất nông nghiệp - Tín dụng kinh doanh xuất nhập khẩu (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Căn cứ vào thời hạn cho vay Tín dụng ngắn hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn dưới một năm. Đối với khoản tín dụng này thường được dùng để bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu vốn lưu động và nhu cầu chi tiêu cá nhân. Tín dụng trung hạn: Hoạt động TD có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, được sử dụng chủ yếu đầu tư tài sản cố định, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Bên cạnh đầu tư tài sản cố định, nó còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các DN và nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: mua sắm các tài sản có giá trị lớn hay đầu tư bất động sản… Tín dụng dài hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn trên 3 năm, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh hay dự án dài hạn như: xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng mới,. Hiện nay các NHTM đang nâng dần tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng. 7 Căn cứ theo đảm bảo Tín dụng có đảm bảo: Trong hợp đồng tín dụng KH đi vay cam kết đảm bảo về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng để trả nợ cho NHTM như: Nhà cửa, vật kiến trúc, quyền sử dụng đất, máy móc thiết bị, ôtô, … hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba khi không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng. NHTM sẽ phát mại những tài sản đảm bảo đó trên thị trường nhằm thu hồi vốn và lãi.
Tín dụng không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của KH. đối với những KH có uy tín, có tài chính lành mạnh, quản lý có hiệu quả, làm ăn thường xuyên có lãi, không xảy ra tính trạng nợ nần thì NH có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân KH mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Căn cứ theo hình thức tài trợ tín dụng - Cho vay: “Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục TD.
- Cho vay từng lần: Áp dụng cho các trường hợp KH vay vốn bổ sung vốn lưu động không thương xuyên hoặc KH có vòng quay vốn kinh doanh dài. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Áp dụng trong các trường hợp KH có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, có mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có uy tín với NH. Khi hợp đồng tín dụng theo hạn mức có hiệu lực, KH cần rút vốn sẽ không cần phải ký thêm hợp đồng tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay. - Cho vay theo dự án đầu tư: NH cho KH vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
8 Ngoài ra còn có tên khác như: Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ), cho vay trả góp , cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng,. (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Căn cứ vào mức độ rủi ro tín dụng NH Theo tiêu thức này giúp cho NHTM thường xuyên đánh giá lại khoản mục tín dụng, xây dựng các giải pháp phòng ngừa rủi ro, trích lập các quỹ dự phòng và đánh giá chất lượng tín dụng, qua đó giúp cho NHTM theo dõi rủi ro và sinh lời gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách tín dụng hợp lý. - Tín dụng lành mạnh: Các khoản cho vay an toàn, có mức sinh lời cao và có khả năng thu hồi vốn. - Tín dụng có vấn đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như: trong hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, tình hình tài chính không lành mạnh hay gặp sự cố bất ngờ như thiên tai hoả hoạn… - Tín dụng quá hạn có khả năng thu hồi: đó là các khoản nợ đã quá thời hạn quy định nhưng KH có thể khắc phục lại hoạt động SXKD, cam kết sẽ trả hoặc được đảm bảo bởi tài sản cầm cố, thế chấp có giá trị lớn.
- Tín dụng quá hạn khó đòi: nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ không có, tài sản thế chấp bị giảm giá trị, do khách hàng chây ì, lừa đảo…(Nguyễn Đăng Dờn, 2010) 1. Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Chất lượng tín dụng - Dưới giác độ của các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách và đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng của các NHTM được thể hiện ở khả năng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, khai thác các tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất của hoạt động tín dụng. Ngoài ra, chất lượng tín dụng 9 của các NHTM phải giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.