MỞ ĐẦU Thuâ ̣n An có nhiề u baĩ tắ m đe p̣ cùng các di tić h lich ̣ sƣ̉ , thu hút rấ t nhiề u du khách đến thăm nhƣ Miếu Âm Linh , Miế u Thành Hoàng , Hành cu ng Thuâ ̣n An. Thị trấn Thuậ n An có cƣ̉a biể n Thuâ ̣n An , trƣớc còn gọi là cửa Eo , Cửa Nộn, gắ n liề n với nhiề u di tić h và các sƣ̣ kiê ̣n lich ̣ sƣ̉ qua hàng trăm năm , là nơi các pháo hạm Pháp án ngữ tấn công kinh thành Huế. Cƣ̉a biể n Thuâ ̣n An là thủy lộ chính của sông Hƣơng, đƣơ ̣c mở ra năm 1404, do một đợt lũ mạnh của sông Hƣơng đã phá vỡ bờ cát chắn đối diện để tạo nên lối thoát ngắn nhất ra biển [23]. Cửa Thuận An là một cửa biển quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế, đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi nƣớc của phá Tam Giang với nƣớc biển mặn có nồng độ oxy cao, tạo ra các hoạt động đƣa vào và đẩy ra các quẩn thể sinh vật, tải ra biển nƣớc ngọt và các chất dinh dƣỡng dƣ thừa.
Mặt khác cửa Thuận An phục vụ cho việc đi lại buôn bán và đánh bắt cá. Vì là nút giao thông nối liền vùng cận duyên và lƣu vực sông Hƣơng, cửa Thuận An đóng vai trò trọng yếu đối với cố đô Huế về mặt chiến lƣợc, thƣơng mại, cũng nhƣ kinh tế. Là trung tâm phát triển kinh tế của toàn tỉnh, kế sinh nhai của ngƣời dân ở đó, duy trì đa dạng sinh học, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Hiện nay với các dự án phát triển, hoạt động của con ngƣời không dựa trên cơ sở khoa học, không theo quy hoạch lâu dài, liên tục thải các chất độc hại ra môi trƣờng lƣu vực các khu vƣ̣c lân câ ̣n nhƣ lƣu vƣ̣c sông Hƣơng , đầm phá Tam Giang đã gây ra nhiều tác động có hại tới nguồn nƣớc và sinh vật vùng cửa Thuận An, phá vỡ sự cân bằng sinh thái vùng cửa sông ven biển.
Chính vì vậy chất lƣợng nƣớc cũng nhƣ nguồn tài nguyên sinh vật của hệ sinh thái vùng cửa Thuận An rất cần đƣợc nghiên cứu và đánh giá kịp thời. Từ những thực trạng trên cùng với điều kiện kinh tế- xã hội và tình hình biến động của môi trƣờng hiện nay chúng tôi thực hiện đề tài : “Chất lƣợng nƣớc và đa dạng sinh vật nổi vùng cửa sông Hƣơng, tỉnh Thừa Thiên Huế” trên cơ sở đó đánh giá chất lƣợng nƣớc vùng cửa Thuận An để đƣa ra các biện pháp nhằm bảo vệ chất lƣợng nƣớc vùng cửa Thuận An và hệ sinh thái nơi này. ` 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: - Bƣớc đầu cung cấp những dữ liệu về chất lƣợng nƣớc, thành phần và mật độ sinh vật nổi vùng cửa Thuận An để phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo. - Thông qua cơ sở dữ liệu thu thập đƣợc làm nổi bật giá trị và tầm quan trọng của cửa Thuận An đối với tỉnh Thừa Thiên Huế - Phân tích những tác động tiêu cực và tích cực của con ngƣời tới Hệ sinh thái vùng cửa Thuận An - Bƣớc đầu đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển bền vững vùng cửa Thuận An ` 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát về hiện trạng môi trƣờng nƣớc tại các thủy vực Việt Nam.1 Hiện trạng môi trường nước trên thế giới Hiện nay nhân loại đang đứng trƣớc những triển vọng phát triển to lớn do tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đem lại. Xã hội càng phát triển thì nguy cơ ô nhiễm nƣớc càng gia tăng. Các đại dƣơng lớn trên thế giới, nƣớc luôn luôn lƣu thông và sự ô nhiễm có xảy ra cũng chỉ mang tính chất rất nhỏ, nhƣng hiện nay cũng đang hứng chịu sự ô nhiễm nặng nề. Mức độ ô nhiễm tùy từng đại dƣơng khác nhau.
Nhiều vùng biển trên thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng đe dọa đến sự sống của các loài động vật biển mà chủ yếu là nguồn từ đất liền và giao thông vận tải biển gây nên. Gần 90% lƣợng nƣớc thải từ Châu Á đƣợc đổ thẳng xuống biển mà không qua xử lý đang gây lo ngại về môi trƣờng đe dọa sinh thái các vùng bờ biển có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động kinh tế của loài ngƣời, đặc biệt là nghề cá. Khoảng 80% chất gây ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền và chiều hƣớng này có thể tăng lên đáng kể vào năm 2050 nếu nhƣ số dân sống tại vùng duyên hải tăng lên gấp đôi nhƣ dự kiến trong vòng 40 năm nữa, và nếu nhƣ các nƣớc không đẩy nhanh các chƣơng trình chống ô nhiễm. Cùng với chất thải từ các nhà máy lớn đặt tại các vùng bờ biển, vùng biển Nam và Đông Á còn phải tiếp nhận 2/3 khối lƣợng đất và phù sa do các con sông đổ ra biển [49].
Ô nhiễm nƣớc ngọt lại càng trầm trọng. Các sông hồ trên thế giới chủ yếu bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ. Các chất hữu cơ có nồng độ lớn trong nƣớc sinh hoạt và nƣớc thải công nghiệp. Ô nhiễm hữu cơ đƣợc đánh giá qua các chỉ số COD, BOD và DO.
Từ số liệu của các trạm quan trắc trên thế giới có khoảng 10% con sông bị ô nhiễm hữu cơ rõ rệt (BOD > 6,5 mg/l hoặc COD > 44 mg/l), 5% số dòng sông có nồng độ DO thấp (< 55% bão hòa), 50% số dòng sông trên thế giới bị ô nhiễm hữu cơ nhẹ (BOD khoảng 3mg/l, COD khoảng 18mg/l). Trong thập kỉ gần đây ở các nƣớc phát triển mức độ ô nhiễm hữu cơ trong sông hồ giảm rõ rệt. Tại một số quốc gia đang phát triển nhƣ Malaixia nhờ sự quan tâm xử lí chất ô nhiễm ` 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nên hàm lƣợng BOD trong nƣớc giảm dần. Tuy nhiên ở nhiều quốc gia hàm lƣợng BOD trong nƣớc ngày càng tăng cao [31].
Khoảng 10% số sông trên thế giới có nồng độ Nitrat rất cao (9 – 25 mg/l), vƣợt nhiều lần so với tiêu chuẩn nƣớc uống của WHO (10mg/l). Khoảng 10% các sông có nồng độ Photpho 0,2 – 2,0 mg/l cao hơn quy chuẩn rất nhiều. Nguồn nƣớc giàu các chất dinh dƣỡng N, P có khả năng bị phú dƣỡng hóa. Hiện nay, trên thế giới có 30- 40% số hồ chứa bị phú dƣỡng hóa.
Trên 30% trong số 800 hồ ở Tây Ban Nha và nhiều hồ ở Nam Phi, Úc, Mêhico cũng bị phú dƣỡng. Tuy nhiên, các hồ lớn nhƣ hồ Baikal (chứa 20% lƣợng nƣớc ngọt toàn cầu), hồ Thƣợng, hồ Malawi chƣa bị phú dƣỡng [31]. Các dòng sông nhận khối lƣợng lớn nƣớc thải sinh hoạt từ các trung tâm dân cƣ nên ô nhiễm do vi trùng xảy ra thƣờng xuyên. Theo tiêu chuẩn của WHO tổng vi sinh colifrom trong nƣớc uống không quá 10/100 ml và feacal colifrom không đƣợc có mặt trong 100ml nƣớc, chỉ có khoảng 10% số trạm quan trắc đạt tiêu chuẩn này.
Sông Yamune trƣớc khi chảy qua New Delhi có 7500 Feacal colifrom/ 100 ml, sau khi qua thành phố thì lƣợng Feacal colifrom lên tới 24.000/ 100 ml do ảnh hƣởng của lƣu lƣợng nƣớc cống rãnh đổ vào sông đến 200. Ô nhiễm nguồn nƣớc do vi trùng là nguyên nhân gây chết 25.000 ngƣời mỗi ngày ở các nƣớc phát triển [31]. Ngoài ra, một số sông bị ô nhiễm kim loại nặng hoặc bị ô nhiễm hóa chất nhƣ hợp chất chứa clo, aldrin… 1.2 Hiện trạng môi trường nước tại Việt Nam Hiện nay, nhờ chính sách tự do hóa thƣơng mại, nền kinh tế Việt Nam đã có những bƣớc tăng trƣởng mạnh, tỉ lệ nghèo đói giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên thúc đẩy thƣơng mại cũng đi cùng với sự phát triển kinh tế môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng biển bị đe dọa nghiêm trọng.
Môi trƣờng nƣớc, biển của Việt Nam là một trong những đối tƣợng chịu tác động và đe dọa nghiêm trọng khi lƣợng dân số ngày càng gia tăng, ngày càng có nhiều các khu công nghiệp, đô thị và du lịch đƣợc xây dựng dọc các con sông và ven biển, khiến lƣợng chất thải gia tăng nhanh chóng. Hầu hết các ` 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con sông Việt Nam đều chảy qua các khu dân cƣ tập trung, các khu công nghiệp và những vùng nông nghiệp phát triển trƣớc khi đổ ra biển, mang theo toàn bộ chất ô nhiễm nó nhận đƣợc trong đất liền, gây ô nhiễm biển. Cùng với sự đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt và chế biến thủy sản, hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển du lịch, giao thông trên biển… đều làm gia tăng nguy cơ gây hại cho môi trƣờng nƣớc biển Việt Nam. Ô nhiễm nƣớc mặt trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các hệ sinh thái thủy sinh và những khu vực có hệ thống sông bị ô nhiễm chảy qua.
Đa da ̣ng sinh ho ̣c và nguồ n lơ ̣i thủy hải sản giảm rõ rê ̣t do đánh bắ t tâ ̣n diê ̣t và suy giảm môi trƣờng số ng. Nghiêm trọng hơn, nhu cầu tiêu thụ nƣớc cho sinh hoạt và sản xuất tăng mạnh đang khiến nguồn nƣớc ngầm đứng trƣớc nguy cơ bị khai thác cạn kiệt. Qua thời gian nguy cơ ô nhiễm càng tăng lên và cho đến hôm nay có thể nói rằng tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam đã tăng lên với cƣờng độ kinh khủng và rất khó cứu chữa. Ở miền Bắc, sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên về Hà Nội.
Phần sông Hồng qua địa phận Lào Cai có tải lƣợng lớn và ô nhiễm nhỏ nên chất lƣợng nƣớc chƣa bị suy giảm đáng kể, DO nằm trong khoảng từ 7. Nƣớc sông Hồng qua Hà Nội không đạt tiêu chuẩn Việt Nam về nguồn nƣớc phục vụ cho mục đích sinh hoạt (TCVN 5942-1995) về phƣơng diện hóa học, vi trùng và độ đục. Sông Hồng Hà Nội có hàm lƣợng COD, BOD, tổng lƣợng coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép so với nguồn nƣớc loại A tới 3-5 lần, các chỉ tiêu NH4, NO3 đều cao hơn từ 1,5-2 lần [15]. Nƣớc ở các sông thoát nƣớc tại Hà Nội nhƣ sông Tô Lịch, sông Kim Ngƣu đã bị ô nhiễm nặng.
Các thông số BOD5, COD đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 đến 3 lần, tổng số coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ hàng chục đến hàng trăm lần [18]. Lƣợng chất thải lỏng thải vào sông Cầu khi qua Thái Nguyên khoảng 40 triệu m3/năm.