Chương 1. Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị và và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra. Quan điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay.
22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị - một số vấn đề lý luận 1. Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 1. Khái niệm "giảng viên", "giảng viên lý luận chính trị" * Khái niệm "giảng viên" Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, đã xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của xã hội loài người.
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những kinh nghiệm, tri thức mà nhân loại đã tích lũy được. Nhiệm vụ đặc biệt đó từ thời cổ đại đến nay đã trở thành một chức năng chuyên biệt và được giao cho các nhà giáo. Ngành giáo dục với bề dày lịch sử của mình đã cho những dữ liệu phong phú để tiếp cận, làm rõ khái niệm “nhà giáo” như là cơ sở để làm rõ khái niệm “giảng viên”. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, lúc đầu ở Việt Nam, nhân dân cũng gọi người làm nghề dạy học là “Sư” và trân trọng "Sư" - “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.
Sau khi có chữ Nôm, nhân dân gọi những người làm nghề dạy học bằng "Thầy" - thầy Đồ, thầy Nho, đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, thì gọi là “Thầy giáo”. Trong nhận thức và trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam, nhà giáo là một chức danh xã hội được xếp đầu tiên và không hàm nghĩa giới tính. Theo Từ điển Tiếng Việt, nhà giáo là “những người làm nghề dạy học” [113, tr. Để làm rõ hơn khái niệm nhà giáo, đồng thời quy định địa vị pháp lý của nhà giáo, tại Điều 70 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo: “Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [89].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, “nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là nhà giáo; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [89]. Như vậy, “giảng viên là khái niệm chỉ những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các học viện, các trường đại học, cao đẳng”. Hiện nay, theo quan niệm của giáo dục hiện đại, khái niệm "giảng viên" cũng như vai trò giảng viên đã được mở rộng hơn, theo đó, giảng viên thực hiện vai trò trong quá trình đào tạo: 1). Vai trò của người thúc đẩy: Đây là vai trò rất quan trọng của giảng viên, phù hợp với nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, trong đó nhiệm vụ của giảng viên là gợi mở, khuyến khích, giúp đỡ, thúc đẩy sinh viên từng bước tự nhận thức, từ đó rút ra phương pháp và những kiến thức cần thiết áp dụng trong thực tiễn, giải quyết công việc hiệu quả.
Để làm tốt vai trò của người thúc đẩy, giảng viên phải có phương pháp tốt, nhạy bén nghề nghiệp, nắm bắt được khả năng, đặc điểm tâm lý, điểm mạnh cũng như hạn chế của người học, từ đó tìm ra những điểm mấu chốt, khơi gợi, thúc đẩy mong muốn, khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học, hình thành kỹ năng xử lý vấn đề cho người học. Vai trò của người tổ chức: Giảng viên cần tổ chức tốt từng khâu cũng như toàn bộ quá trình giảng dạy của mình, từ xác định nhu cầu, thiết kế đào tạo đến chuẩn bị bài giảng và tiến hành công việc giảng dạy. Tổ chức quá trình giảng dạy hiệu quả, giảng viên phải chú ý đến tính tương tác giữa người dạy và người học, trong đó, người học được coi là trung tâm. Với vai trò của người tổ chức, giảng viên phải có phương pháp làm việc khoa học, có tinh thần tận tụy, phong cách sư phạm, thái độ cởi mở, sẵn sàng trao đổi, lắng nghe ý kiến của người học.
Trong vai trò của người tổ chức, ba yếu tố: Kiến thức, phương pháp, đạo đức nghề nghiệp được kết hợp nhuần nhuyễn, đạt tới trình độ cao. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở nước ta, yêu cầu đối với giảng viên được xác định cụ thể: Về trình độ đào tạo, giảng viên ít nhất là có trình độ từ đại học trở lên. Trong quá trình phát triển, yêu cầu đặt ra với giảng viên là phải từng bước chuẩn hoá để đạt trình độ văn bằng thạc sỹ, tiến sỹ. Nhìn chung, giảng dạy ĐH, CĐ là một hoạt động mang tính nghề nghiệp bậc cao; giảng viên là tầng lớp trí thức có năng lực chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm để tham gia giảng dạy tốt một môn học (hoặc một số môn học).
* Khái niệm "giảng viên lý luận chính trị" Theo tiếng Hy lạp, "Theorie"/lý luận - với nghĩa sơ khai của nó là quan sát, nghiên cứu. Cùng với sự phát triển của xã hội, của tri thức con người, khái niệm lý luận càng ngày càng được hiểu đầy đủ hơn. Lý luận là phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của tri thức loài người. Theo sự phát triển của lịch sử, có rất nhiều cách định nghĩa và khái niệm lý luận ngày càng được hiểu một cách đầy đủ, phong phú hơn.
Nói về lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa một cách rất đơn giản, ngắn gọn, song đầy đủ: "Đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính" [75, tr. Từ khái niệm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về lý luận ở mức độ sâu sắc hơn: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [77, tr.
Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những làm sáng tỏ quan niệm triết học về lý luận mà còn làm sáng tỏ nguồn gốc, cách thức hình thành lý luận. Về thực chất, lý luận chính là hệ thống những tri thức đã được khái quát tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Để tồn tại và phát triển, con người buộc phải tìm hiểu thế giới xung quanh, phải có tri thức nhất định về nó. Tuy nhiên, những tri thức đó không phải tự nhiên mà có, nó chỉ được hình thành, được thu nhận thông qua hoạt động thực tiễn (qua cải tạo thế giới tự nhiên, 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua các hoạt động chính trị - xã hội, qua lao động sản xuất).
Trong quá trình lao hoạt động thực tiễn con người dần dần đúc rút được kinh nghiệm, tích lũy những kinh nghiệm đó lại. Và lý luận chính là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa từ những kinh nghiệm thực tiễn đó. Như vậy, lý luận không đơn thuần chỉ là sự mô tả hiện thực khách quan, là sự sao chép giản đơn các kinh nghiệm trong thực tiễn, mà trên cơ sở phản ánh hiện thực của thực tiễn, nó phát hiện ra những quy luật vận động và dự báo những xu hướng, những vấn đề được đặt ra cần giải quyết trong thực tiễn. Những phân tích đó cho thấy: Lý luận được hình thành từ thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn, đa dạng, phong phú của con người, loài người.
Nhận thức của con người, nhìn chung, có cấu trúc phức tạp và có các cấp độ nhận thức khác nhau, song về tổng thể có thể khái quát thành hai cấp độ: Nhận thức kinh nghiệm (nhận thức trực tiếp) và nhận thức lý luận (nhận thức gián tiếp). Nhận thức kinh nghiệm là quá trình nhận thức mang lại những tri thức trực tiếp thu nhận được từ lao động, sản xuất,. Hay nói cách khác, tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn, giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới. Tri thức kinh nghiệm giúp cho con người điều chỉnh kịp thời hoạt động của mình, làm cho con người có được những quyết định nhanh chóng và đúng đắn trong một phạm vi nhất định, hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Song cũng cần phải nhấn mạnh rằng, dù quan trọng và có vai trò to lớn, song tri thức kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở sự khái quát ban đầu, mới chỉ là sự phản ánh sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể, cục bộ, riêng biệt, phản ánh cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, mà chưa đi sâu vào bản chất và qui luật của sự vật, chưa tạo thành một hệ thống tri thức chặt chẽ, chưa tìm ra mối liên hệ bản chất. Do vậy, phạm vi áp dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong phạm vi hẹp. Ăngghen đã viết: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [69, tr. Cho nên, biện chứng của quá trình nhận thức tất yếu vươn tới một tri thức sâu sắc hơn, bản chất hơn, mang tính khái quát cao hơn, đó là tri thức lý luận - kết quả của nhận thức lý luận.
Nhận thức lý luận là quá trình mang lại những tri thức mới, gián tiếp về mối liên hệ bản chất giữa các mặt khác nhau của khánh thể nhận thức, từ đó lý giải, nhận thức những quy luật cơ bản. Tri thức lý luận thuộc trình độ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm, nó đã vượt ra ngoài giới hạn của những tri thức kinh nghiệm. Tri thức lý luận phản ánh hiện thực trong tính bản chất của sự vật, mang tính trừu tượng hóa và khái quát hóa cao, đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và qui luật của sự vật.