Chương 1: Những vấn đề lý luận về chất lượng giải quyết VAHC. Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng chất lượng giải quyết VAHC tại TAND tỉnh Hải Dương. Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết án hành chính tại TAND tỉnh Hải Dương. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NH NG VẤN Đ L LUẬN V CHẤT LƢ NG GIẢI QUY T VỤ N HÀNH CH NH 1.
Khái niệm vụ án hành chính, chất lƣợng giải quyết vụ án hành chính, đặc điểm vụ án hành chính 1. Khái niệm vụ án hành chính Quản lý hành chính là hình thức hoạt động của Nhà nước, được thực thi chủ yếu bởi các cơ quan hành chính, nhằm đảm bảo sự chấp hành các văn bản qui phạm pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoạt động này được thực thi trên cơ sở pháp luật, bảo đảm các quyền và lợi ích của nhà nước và xã hội. Do đó, trong quá trình thực hiện QLHCNN khó tránh khỏi những xung đột hoặc tranh chấp về lợi ích, quan điểm áp dụng pháp luật giữa chủ thể QLHCNN và đối tượng QLHCNN [11].
Khi có xung đột thì c n phải có cơ chế giải quyết. Ở nước ta, trước khi Tòa Hành chính được thành lập, vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định và hành vi của cơ quan có thẩm quyền chỉ là theo thủ tục khiếu nại, do pháp luật chưa thừa nhận khiếu kiện hành chính phát sinh giữa các cơ quan công quyền với công dân, cơ quan, tổ chức. Xuất phát từ nhu c u thực tiễn của xã hội đòi hỏi phải có cơ quan tài phán hành chính độc lập, thông qua con đường tư pháp để giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, theo tinh th n Nghị quyết Hội nghị l n thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII ngày 23/01/1995, Toà Hành chính đã được thành lập, nằm trong hệ thống Toà án. Tiếp đó, Luật tổ chức TAND sửa đổi, bổ sung đã được thông qua ngày 28/10/1995, theo đó Toà Hành chính thức được giao chức năng xét xử các VAHC.
Khái niệm “xét xử VAHC”, “VAHC” vì vậy đã ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam [22]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vậy VAHC là gì? Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “vụ” là việc, sự việc không hay, rắc rối c n phải giải quyết; còn “án” là tranh chấp quyền lợi c n được xét xử trước Tòa án. “Vụ án” là công việc phát sinh trên cơ sở tranh chấp về quyền lợi thuộc nhiệm vụ xét xử của Tòa án [48]. Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì vụ án là “Một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra Tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết…” [29, tr.
Qua hai định nghĩa này, có thể hiểu VAHC là vụ việc phát sinh trên cơ sở tranh chấp trong các lĩnh vực QLHCNN. Trong thực tế, Luật TTHC 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có điều nào quy định cụ thể về khái niệm VAHC, nhưng c n hiểu VAHC là vụ án phát sinh khi cá nhân tổ chức khởi kiện yêu c u Tòa án xem xét tính hợp pháp của QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật. VAHC chỉ phát sinh khi có yêu c u khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với QĐHC, HVHC theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30 Luật TTHC (trừ các quyết định theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 30 Luật TTHC năm 2015) [34]. Theo đó, đơn khởi kiện là căn cứ đ u tiên để Tòa án tiến hành xem xét có tiến hành công đoạn thụ lý đơn hay không.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có đơn khởi kiện là Tòa án sẽ thụ lý VAHC, mà để phát sinh VAHC, việc khởi kiện phải đáp đứng các điều kiện sau: - Người khởi kiện: Theo các Điều 8, Điều 115 Luật TTHC năm 2015 thì người khởi kiện có thể là cá nhân, cơ quan tổ chức, nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức ấy phải thỏa mãn đủ 2 điều kiện: Một là phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHC. Hai là phải là người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi QĐHC, HVHC [34]. - Đối tượng khởi kiện: Căn cứ Điều 30 của Luật TTHC, đối tượng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khởi kiện VAHC phải là QĐHC, HVHC, QĐKLBTV, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri b u cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri b u cử đại biểu HĐND, danh sách trưng c u ý dân; đồng thời phải liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện [34]. - Khiếu nại tiền tố tụng: Điều kiện này chỉ đặt ra đối với khiếu kiện về danh sách cử tri, còn các khiếu kiện khác không là bắt buộc.
Theo khoản 3 Điều 55 Luật TTHC thì người khởi kiện phải thực hiện việc khiếu nại danh sách cử tri đến cơ quan lập danh sách cử tri trước khi thực hiện khởi kiện tại Tòa án. Nếu họ chưa thực hiện khiếu nại mà khởi kiện ra tòa thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho họ [34]. - Điều kiện về tố tụng: Sự việc mà người khởi kiện yêu c u Tòa án giải quyết phải chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp Tòa án có quyết định đình chỉ vụ án theo điểm b, d khoản 1 Điều 143, điểm b, c, e khoản 1 Điều 123 của Luật TTHC thì người khởi kiện vẫn có quyền khởi kiện lại nếu còn thời hiệu [34]. - Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Khác với pháp luật tố tụng dân sự, trong TTHC không có thẩm quyền theo sự lựa chọn, thỏa thuận của đương sự mà là thẩm quyền bắt buộc.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 30, 31, 32 của Luật TTHC, theo đó có thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện [34]. - Hình thức và nội dung đơn khởi kiện: Hình thức và nội dung của đơn khởi kiện phải phù hợp với những quy định tại Điều 117, 118 Luật TTHC. Nếu đơn khởi kiện chưa tuân thủ về hình thức và nội dung thì Tòa án thông báo, hướng dẫn để người khởi kiện sửa đổi bổ sung trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo. Trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho họ [34].
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nộp tiền tạm ứng án phí: Nếu việc khởi kiện đáp ứng đ y đủ các điều kiện khởi kiện nêu trên và người khởi kiện thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí. Nếu họ không nộp tiền tạm ứng án phí và giao lại biên lai thu tiền cho Tòa án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện [34]. Căn cứ quy định tại Điều 125 Luật TTHC thì Tòa án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án hoặc nếu người khởi kiện thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán phải thông báo cho người khởi kiện biết việc Tòa án đã thụ lý vụ án [34]. Việc thụ lý phải vào sổ thụ lý của Tòa án.
Do đó, chỉ xuất hiện VAHC khi các công đoạn trên đã hoàn tất. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ phải tự định hướng xây dựng hồ sơ, tìm kiếm các tài liệu chứng cứ c n thiết để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam thì “giải quyết” có nghĩa là “làm cho không còn thành vấn đề nữa” [25]. Dựa vào khái niệm “VAHC” đã nêu ở trên, có thể định nghĩa “giải quyết VAHC” là việc các cơ quan, người tiến hành TTHC trên cơ sở thực thi quyền tư pháp, theo thủ tục TTHC xem xét và ra phán quyết có giá trị pháp lý nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến một QĐHC hay HVHC.
Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử. Mọi bản án do Tòa án tuyên đều phải thông qua hoạt động xét xử. Như vậy, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, TAND được nhân danh quyền lực Nhà nước để tiến hành xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của HVHC, QĐHC bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục tố tụng luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, qua đó góp ph n nâng cao hiệu lực hành pháp [11].
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm chất lượng giải quyết vụ án hành chính Để đánh giá đúng thực trạng, từ đó có giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết VAHC của ngành TAND nói chung và TAND tỉnh Hải Dương nói riêng, c n phải làm rõ khái niệm chất lượng giải quyết vụ án hành chính là gì? Có thể nói “Chất lượng" là một phạm trù khá trừu tượng, khó nắm bắt. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, người ta lại có quan niệm khác nhau về chất lượng. Tiếp cận từ góc độ nhu c u thì chất lượng là sự phù hợp với nhu c u.
Tiếp cận từ góc độ mục đích thì chất lượng là sự phù hợp với mục đích. Theo Giáo sư Crosby, chất lượng là “sự phù hợp với các yêu c u hay đặc tính nhất định". Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 có định nghĩa: "Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu c u của khách hàng và các bên có liên quan". Như vậy, chất lượng có đặc tính được đo bởi sự thỏa mãn nhu c u, sự phù hợp mục đích của đối tượng đang được xem xét.
Vì vậy nó thường biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.