Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động của công chức hành chính Nhà nước. Chương 2: Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng chất lượng hoạt động của công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Sự cần thiết, quan điểm và giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động của công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm công chức và chất lƣợng hoạt động của công chức 1. Khái niệm công chức, công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện * Công chức Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, đảm bảo cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả. Công chức là một thuật ngữ được phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là khái niệm phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia.
Vì vậy, khái niệm CC được hiểu không hoàn toàn giống nhau ở các quốc gia, thậm chí trong phạm vi mỗi quốc gia thì quan niệm về CC cũng khác nhau qua các thời kỳ. Ở các quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, CC chỉ được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc CC, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những nước chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm CC được mở rộng hơn, ngoài những chủ thể còn gồm cả những đối tượng có dấu hiệu tương tự, nhưng làm việc trong các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Ở Úc và Niu-Di-Lân, quan niệm CC chỉ gồm những người làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở, trong đó các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp của nhà nước mà không gồm những người làm việc trong các cơ quan của đảng hoặc tổ chức chính trị - xã hội.
Pháp lại quan niệm về CC rất rộng gồm hai loại: những CC làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước, bị chi phối bởi luật CC; những CC bị chi phối bởi luật lao 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, hợp đồng lao động và luật tư. Ở Mỹ, những nhân viên trong ngành hành chính của chính phủ được gọi là CC. Công chức ở Nhật Bản, gồm CC nhà nước và CC địa phương. Công chức nhà nước là những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành Tư pháp, Quốc hội, quân đội, trường học công, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, được lĩnh lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức địa phương là những người làm việc ở địa phương và lĩnh lương từ nguồn ngân sách của địa phương. Inđônêxia xác định CC là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc thường xuyên ở các công sở trung ương và địa phương, một số sỹ quan cao cấp trong quân đội, những nhà quản trị các doanh nghiệp nhà nước. Ở một số nước, CC chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản lý nhà nước. Trong khi đó, ở một số nước khác, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước, chế độ CC còn được áp dụng cho những người làm trong các cơ quan dịch vụ công.
Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhau trong quan niệm về CC. Tuy nhiên, do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế mỗi nước có những điểm riêng; nên từng nước đều thường xuyên hoàn thiện chính sách đối với đội ngũ CC, nâng cao chất lượng đội ngũ CC. Ở Việt Nam, khái niệm CC lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 25/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ban hành “Quy chế công chức”. Theo quy chế này, CC được hiểu là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định.
Như vậy, CC chủ yếu là những người làm việc trong bộ máy Nhà nước ở trung ương. Đội ngũ CB đoàn thể, những người làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương không phải tất cả đều là 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CC thuộc phạm vi điều chỉnh của Sắc lệnh 76/SL. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên Quy chế công chức theo Sắc lệnh này không được thực hiện đầy đủ và trong thực tế thời gian này người ta thường dùng khái niệm CB để chỉ những người làm việc trong biên chế Nhà nước nói chung. Những năm đầu của thập kỷ 80, khái niệm CC được xác định lại theo Nghị định số 169/NĐ-HĐBT ngày 20/5/1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
Điều 1, nghị định này quy định: CC là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp. Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được ban hành, cán bộ, công chức được quy định tại Khoản 2 Điều 4 luật này là: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [48, Điều 4, Khoản 2]. * Công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện: Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp huyện) là cấp thứ 3 trong 04 cấp quản lý hành chính của bộ máy HCNN. Cấp huyện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp cho các xã, phường, thị trấn thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước ở địa phương.
Đặc biệt là chỉ đạo phát triển toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn. Vì vậy, UBND huyện có những chức năng cơ bản sau đây: - Quản lý hành chính theo ranh giới, lãnh thổ về các hoạt động của Đảng, Nhà nước và các ngành chức năng thuộc các xã, phường, thị trấn theo nhiệm vụ phân cấp của Chính phủ. - Vận dụng và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở địa phương. Lãnh đạo chỉ đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và toàn dân thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn nhằm góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (sau đây viết tắt là XHCN).
- Quản lý trực tiếp và toàn diện các xã, phường, thị trấn trên địa bàn và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của cấp tỉnh và trung ương. Để đảm đương vai trò nói trên, UBND cấp huyện, có nhiệm vụ chủ yếu: - Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, kế hoạch ngân sách tài chính hằng năm trình Hội đồng nhân dân huyện (sau đây viết tắt là HĐND) thông qua trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt. - Tổ chức chỉ đạo việc thi hành pháp luật, ban hành các Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Tổ chức tuyên tuyền giáo dục pháp luật, kiểm tra chấp hành hiến pháp, pháp luật ở cơ sở.
Tổ chức chỉ đạo công tác thi hành án; công tác kiểm tra, thanh tra Nhà nước. Tổ chức tiếp và giải quyết kịp thời những khiếu nại, tố cáo của công dân. Quyết định xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xây dựng chính quyền, quản lý Nhà nước đối với các tổ chức kinh tế.
Quản lý địa giới hành chính. Tổ chức việc bầu cử Quốc hội, HĐND theo quy định của pháp luật. Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương theo phân cấp của Chính phủ, tỉnh và thành phố. Xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và đất ở, giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trên địa bàn… Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ quyền hạn trên, UBND huyện cần sử dụng tốt đội ngũ CC thuộc thẩm quyền quản lý.
Đội ngũ CC ấy làm việc trong các cơ quan lãnh đạo, chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Họ được giao chức trách và thẩm quyền cụ thể để giúp UBND cấp huyện thực hiện những chức năng, nhiệm vụ được giao. Là bộ phận quan trọng cấu thành nên các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp huyện, CC chuyên môn cấp huyện đóng vai trò chủ yếu và quyết định hiệu quả công việc trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này, mà cao hơn chính là kết quả công tác của UBND huyện. Từ những lý luận trên đây, tác giả cho rằng: Công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật, được giao giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện.