Chương 1: Già hoá dân số và Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quát về dân số, tình hình già hoá dân số ở Nhật Bản nói chung và khu vực nông thôn nói riêng; khái niệm, cơ chế vận hành và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Nghiên cứu trường hợp về chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Chương hai là một trong hai chương chính của luận văn. Trong chương này, tác giả tập trung phân tích quá trình ban hành và triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại hai địa phương là làng Tozawa, tỉnh Yamagata và thị trấn Sanada, tỉnh Nagano. Tiếp đó, tác giả luận văn phân tích kết quả điều tra phỏng vấn để làm rõ tình hình cụ thể của việc chăm sóc người cao tuổi tại đây.
Chương 3: Đánh giá thực trạng chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Trong chương ba, tác giả sẽ phân tích những đặc điểm sử dụng dịch vụ điều dưỡng của người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng. Từ đó tác giả chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đưa ra một vài gợi ý về chính sách cho Việt Nam. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƢỠNG Ở NHẬT BẢN Già hoá dân số là một trong những xu hướng phổ biến của thế kỷ XXI và có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới. Dân số già có nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và là hệ quả tích cực của các chính sách phát triển kinh tế, chăm sóc y tế, phúc lợi xã hội.
Hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050, dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỉ lệ người trên 60 tuổi sẽ là 1/5, nghĩa là cứ có 5 người thì có 1 người cao tuổi4. Tuy nhiên, tốc độ già hoá lại diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực. Tại Bắc Âu và Bắc Mỹ là hai khu vực sớm trải qua gia đoạn dân số già, các chính phủ đã sớm đưa ra những chính sách y tế phúc lợi dành cho người cao tuổi, đồng thời tìm kiếm giải pháp hạn chế ảnh hưởng xấu của tình trạng này.
Tại Châu Á, Nhật Bản là nước đầu tiên bước vào thời kỳ già hoá. Hiện nay, một số nước phát triển trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc và ngay cả những nước đang phát triển như Thái Lan hay Việt Nam cũng bắt đầu phải đối mặt với vấn đề này. Cùng với sự phát triển thần kỳ về kinh tế, điều kiện sống cũng như y tế phúc lợi Nhật Bản được cải thiện rõ rệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã góp phần tăng tuổi thọ trung bình của người Nhật, nhưng bên cạnh đó làm phát sinh một số vấn đề xã hội nan giải, như quan niệm không lấy chồng sinh con dẫn đến tỉ lệ sinh giảm… khiến dân số Nhật Bản ―già đi‖ nhanh chóng. Nếu thời gian cần thiết để phần người già trong tổng số dân tăng gấp đôi từ 7 lên 14% ở Pháp là 130 năm, ở Thuỵ Điển là 85 năm thì ở Nhật Bản chỉ mất có 25 năm [12, tr.
Tốc độ già hoá diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh thành và đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn. Theo tính toán, khu vực nông thôn Nhật Bản bước vào thời kỳ siêu già của dân số nhanh hơn 20 năm so với khu vực thành thị [35, tr. Đó là bởi xu hướng thời đại khi thế hệ trẻ rời bỏ quê hương ra thành phố lập nghiệp và để lại người cao 4 PGS. Mạc Văn Tiến, Xu hướng già hoá dân số và an sinh xã hội trong thế kỷ 21, đăng trên trang web Bảo hiểm xã hội Bộ quốc phòng, truy cập ngày 10/12/2017 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuổi sống độc thân hoặc vợ chồng người cao tuổi sống cùng nhau.
Chăm sóc người cao tuổi tại nhà đứng trước thách thức lớn, đặt ra yêu cầu về ―xã hội hoá chăm sóc‖, tức là nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác chăm sóc người cao tuổi. Đồng thời, những khó khăn trên cũng đặt ra yêu cầu về một chế độ hỗ trợ toàn diện về phúc lợi, y tế và cuộc sống sinh hoạt để người cao tuổi có một cuộc sống ổn định và khoẻ mạnh chính tại nơi mà họ đang sống. Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ra đời năm 2000 đã kịp thời đáp ứng những nhu cầu đó. Chương 1 tập trung trình bày về bối cảnh ban hành chế độ này, tiền đề của các chế độ bảo hiểm trước đó và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000.1 Dân số và già hoá dân số Theo kết quả thống kê của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2016, dân số nước này đạt 126,93 triệu người (nam giới là 61,77 triệu người, nữ giới là 65,17 triệu người), giảm 0,11% so với cùng kỳ năm trước và đánh dấu năm giảm dân số thứ 6 liên tiếp kể từ năm 2010.
Cũng trong thống kê này, số người từ 65 tuổi trở lên ở Nhật Bản là 34,59 triệu người, chiếm 27,3% trong tổng dân số. Nam giới từ 65 tuổi trở lên chiếm 24.3% trong tổng dân số người cao tuổi, với 15 triệu người; trong khi đó số liệu này ở nữ giới là 19,59 triệu người, chiếm 30,1% [34, tr. Theo nghiên cứu được Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế công nhận do các tác giả Cowgill và Holmes thực hiện năm 1970, khi tỉ lệ người già trên 65 tuổi vượt trên 7% dân số thì xã hội đó bước vào giai đoạn già hoá dân số5. Nếu áp dụng quan điểm này thì Nhật Bản đã bước vào thời kỳ già hóa dân số từ những năm 70 của thế kỷ XX.
5 Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số thì dân số được coi là ―già hoá‖. Tương tự, 10%-19,9% gọi là dân số ―già‖; 20%-29,9% gọi là dân số ―rất già‖ và từ 30% trở lên gọi là dân số ―siêu già‖. Nhiều báo cáo của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế sử dụng cách phân loại này. Nguồn: Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, 7/2011, trang 2 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Nhật Bản hiện nay, thế hệ dankai (団塊の世代, tức thế hệ sinh ra trong cuộc bùng nổ dân số lần thứ nhất sau Chiến tranh Thế giới thứ hai diễn ra trong các năm 1947~1949) đang bước vào giai đoạn già hoá.
Cụ thể là theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, đến năm 2015, số người thuộc thế hệ này trên 65 tuổi là 33,87 triệu người, và đến năm 2025 khi thế hệ này 75 tuổi, ước tính con số đạt mức 36,77 triệu người. Theo dự báo, tỉ lệ già hoá dân số Nhật Bản tiếp tục tăng lên trong những năm tới và đến năm 2036, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm 33,3%, tức là cứ 3 người thì có 1 người trên 65 tuổi. Từ sau năm 2042, việc tổng dân số giảm sẽ tiếp tục kéo theo sự tăng của tỉ lệ già hoá, đến năm 2065, tỉ lệ này đạt 38,4%, đồng nghĩa với việc cứ 2,6 người thì có 1 người trên 65 tuổi. Cùng với đó, tỉ lệ người trên 75 tuổi cũng tăng dần qua các năm và đến năm 2065, tỉ lệ này sẽ đạt 25,5% khiến cho lần đầu tiên ở Nhật Bản, cứ 4 người thì có 1 người ở độ tuổi 75 [34, tr.
Theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, năm 2015 số hộ gia đình có người già trên 65 tuổi là 23,72 triệu hộ, tăng 23,1% so với năm 1980 và chiếm 47,1% trong tổng số hộ gia đình cả nước. Trong khi số hộ gia đình ba thế hệ sống cùng nhau có xu hướng giảm thì số hộ chỉ có người già sống cùng con cái chưa kết hôn, hộ chỉ có hai vợ chồng người già và hộ người già sống độc thân lại có xu hướng tăng lên. Nếu năm 1980, tỉ lệ gia đình ba thế hệ cao nhất và chiếm hơn một nửa thì đến năm 2015, số hộ chỉ hai vợ chồng chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 30%. Như vậy có thể thấy rõ một thực tế là số người già trên 65 tuổi ở Nhật Bản sống cùng con cái đang ngày càng giảm, từ 69,0% năm 1980 xuống còn 39% năm 2015 và người già sống độc thân đang ngày càng tăng lên [34, tr.
―Xã hội già hoá và tỉ lệ sinh thấp‖ (尐子高齢化) đang là cụm từ được dùng rộng rãi để nói về vấn đề mất cân bằng dân số ở Nhật Bản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng già hoá dân số, trong đó tình trạng phụ nữ kết hôn muộn, không muốn có con là những nguyên nhân hàng đầu của vấn đề tỉ lệ sinh giảm, một trong những yếu tố góp phần làm già hoá dân số. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét về tỉ lệ sinh đẻ, vào những năm 1970, trung bình một phụ nữ Nhật Bản đẻ dưới 2,08 người con trong vòng đời. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu tỉ lệ sinh cứ tiếp tục duy trì ở tình trạng thấp như vậy thì sẽ dẫn đến giảm dân số, nhưng trên thực tế, do tuổi thọ trung bình của người Nhật vẫn tiếp tục tăng lên nên dân số vẫn tăng.
Tuy nhiên từ sau năm 1975 đã giảm xuống là 2,0 người con/phụ nữ, và cho đến năm 2015 thì tỉ lệ này là 1,45 người con/phụ nữ6. Nhiều biện pháp khắc phục đã được đề ra như tăng cường hệ thống phúc lợi dành cho người có con nhỏ với nhiều ưu tiên, thực hiện các chính sách khuyến khích sinh đẻ, hoàn thiện hơn nữa môi trường giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo để các bà mẹ có thể yên tâm gửi con đi làm, giảm bớt gánh nặng việc nhà và chăm sóc con nhỏ cho phụ nữ. Tuy nhiên, việc giảm mạnh tỉ lệ sinh vốn bắt nguồn từ sự thay đổi trong ý thức, quan niệm của người Nhật về vấn đề hôn nhân, gia đình và việc sinh con, dẫn tới lối sống độc thân, sự thu hẹp quy mô gia đình. của xã hội hậu công nghiệp7.