CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ RONG BIỂN 1. Giới thiệu và phân loại rong biển Rong biển là nhóm thực vật thủy sinh bậc thấp sống ở biển, có kích thước và hình dạng rất phong phú. Chúng có thể là đơn bào, đa bào, sống thành quần thể, mọc trên các rạn san hô hoặc trên các vách đá hoặc có thể mọc dưới tầng nước sâu với điều kiện có ánh sáng mặt trời chiếu tới để quang hợp [14, 15].
Rong biển có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái biển là nơi sống, trú ẩn, kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển nhất là thời kỳ cây non và có giá trị lớn đối với đời sống con người như cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến (chiết xuất keo agar, carrageenan, fucoidan…), làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh…[16, 17]. Rong biển rất giàu chất dinh dưỡng, là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng. Rong biển rất giàu chất chống oxy hóa, chất bột đường, chất đạm, chất xơ, chất khoáng, các nguyên tố vi lượng và một lượng nhỏ các chất dinh dưỡng khác như omega-3, omega-6, vitamin A, B, C, E. Trên thế giới, các nhà khoa học đã xác định được khoảng 10 000 loài rong biển và chia thành 3 ngành có giá trị kinh tế cao dựa vào màu sắc của chúng, bao gồm: rong đỏ có khoảng 6500 loài; rong nâu với khoảng 1800 loài và rong lục khoảng 1500 loài [20, 21].
Tại Việt Nam đã xác định được khoảng 827 loài rong biển thuộc 4 ngành. Trong đó, ngành rong đỏ chiếm hơn 412 loại, ngành rong lục chiếm 180 loại, ngành rong nâu hơn 147 loại và ngành rong lam gần 88 loại (bảng 1. Trong tất cả các loài này, 310 loài phân bố ở vùng ven biển các tỉnh phía Bắc và 484 hiện diện ở các tỉnh phía Nam, 156 loài phân bố ở cả hai vùng [22, 23]. Tổng số taxon rong biển Việt Nam [22] Số lượng và tỉ lệ(%) Bộ Họ Chi Loài TT Ngành Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%) 1 Cyanophyta 1 16,66 4 11,11 10 12,82 88 10,64 2 Rhodophyta 2 33,34 18 50,00 36 46,15 412 49,81 3 Ochrophyta 1 16,66 8 22,22 11 14,10 147 17,77 4 Chlorophyta 2 33,34 6 16,67 21 26,93 180 21,78 Tổng 6 100 36 100 78 100 827 100 Nguồn: Nguyen Van Tu, et al.
[22] Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo, thành phần sắc tố, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh sản mà rong biển được chia thành nhiều ngành khác nhau. Với tổng số gần 800 loài rong tìm thấy ở vùng biển Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam cùng thống nhất xếp chúng vào 3 ngành chính có giá trị kinh tế cao trong hệ thống phân loại 10 ngành của Gollerbakh năm 1977 [24]: + Ngành rong nâu (Phaeophyta) + Ngành rong lục (Chlorophyta) + Ngành rong đỏ (Rhodophyta) Rong nâu: Là loài rong thường có kích thước lớn gồm 4 chi lớn: Sargassum, Turbinaria, Dictyota, Padina. Chúng phân bố rộng, chiếm ưu thế trên các bãi triều ven biển của các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Rong nâu phân bố nhiều nhất ở Nhật Bản, tiếp đến là Canada, Việt Nam, Hàn Quốc, Alaska, Ireland, Mỹ, Pháp, Ấn Độ….
Trong đó, hai chi Sargassum và Turbinaria thuộc họ Sargassaceae (bộ Fucales) là hai đối tượng phổ biến và kinh tế nhất. Sản lượng rong nâu lớn nhất thế giới tập trung tại Trung Quốc, tiếp đến là Hàn Quốc, Nhật Bản, Na Uy, Chile. 9 Sargassum microcystum Turbinaria ornata Hình 1. Hình ảnh về một số loài rong nâu [26].
Rong lục: Là loài rong có kích thước nhỏ giống như rong đỏ, chúng bao gồm cả những loài đơn bào và đa bào. Trên thế giới, rong lục phân bố chủ yếu tập trung tại Philippines, tiếp theo là Hàn Quốc, Indonesia, Nhật Bản và ít hơn là ở Việt Nam với các loài như Ulva reticulata, Ulva lactuca, Caulerpa racemosa, … Ngoài ra, rong lục còn phân bố rải rác ở các nước: Canada, Chile, Pháp, Israel, Italy, Malaysia, Achentina, Bangladesh…[21, 27]. Hình ảnh về một số loài rong lục [28]. Rong đỏ phân bố nhiều ở Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Chile, Indonesia, Philippines tiếp đến là Thái Lan, Brazil, Pháp, Trung Quốc, Hawaii, Ấn Độ, Anh, Mỹ … Hiện nay trên thế giới đã phân loại được gần 6500 loài rong đỏ, khoảng 800 chi, thuộc nhiều họ khác nhau.
Tại vùng biển Việt Nam ngành rong đỏ Rhodophyta có khoảng 412 loài [22, 31]. Từ rong biển có thể tách các polysaccharide như: carrageenan, acid alginic, agar,… Các loài rong đỏ được chia làm ba nhóm chính [22, 32, 33]: - Nhóm rong cho Agar (Agarophyte): bao gồm các chi, các loài như: Gelidium, Graccilaria, Acanthopeltis, Gelidiella,. - Nhóm Gelans: nhóm rong này dùng để sản xuất Furcellaran, điển hình của nhóm rong này là Furcellaria. - Nhóm rong cho Carrageenan (Carrageenophyte): bao gồm các chi, các loài như: Gigartina, Eucheuma, Chondrus, Iridaea, Chondruscripus, Gigartinastella và Hypnea… G.
eucheumoides Harv Coelarthrum opuntia Gymnogongrus (Endl.) Boerg flabellifotmis Harv Liagora sp1 Liagora sp2 Grateloupia lithophila Boerg Hình 1. Hình ảnh về một số loài rong đỏ [34] 11 1. Thành phần hóa học có trong rong biển Năm 2005, các tác giả Huỳnh Quang Năng, Bùi Minh Lí và cộng sự đã nghiên cứu về thành phần hóa học và cấu trúc của carrageenan từ các loài rong biển Kappaphycus alvarezii, Kappaphycus striatum và Eucheuma denticulatum (di nhập từ Philippines). Thành phần hóa học của một số loài rong trong 3 ngành rong chính (Tỉ lệ tính trên 100g rong tươi) [25] Ascophylm Laminaria Alari Palmaria Porpha Porphyra Ulva sp.
nodosum digitata aesculenta palmata sp. yezoensis Ngành rong Nâu Nâu Nâu Đỏ Đỏ Đỏ Lục Nước 70 - 85 73 - 90 73 - 86 79 - 88 86 70 78 Tro 15 - 25 10 - 25 14 - 27 15 - 30 8 - 16 7,8 13 – 22 Alginic acid 15 - 30 20 - 45 21 - 42 0 0 0 0 Xylan 0 0 0 29 - 45 0 0 0 Laminaran 0 - 10 0 - 18 0 - 34 0 0 0 0 Mannitol 5 - 10 4 - 16 4 - 13 0 0 0 0 Fucoidan 4 - 10 2-4 nd 0 0 0 0 Floridosid 0 0 0 2 - 20 nd nd 0 Protein 5 - 10 8 - 15 9 - 18 8 - 25 33 - 47 43,6 15 – 25 Chất béo 2-7 1-2 1-2 0,3 - 0,8 0,7 2,1 0,6 - 0,7 Tannin 2 - 10 0,1 0,5 - 6,0 nd nd nd Nd Kali 2-3 1,3 - 3,8 nd 7-9 3,3 2,4 0,7 Natri 3-4 0,9 - 2,2 nd 2,0 - 2,5 Nd 0,6 3,3 Magie 0,5 - 0,9 0,5 - 0,8 nd 0,4 - 0,5 2,0 nd Nd Iod 0,01 - 0,1 0,3 - 1,1 0,05 0,01 - 0,1 0,0005 nd Nd nd: Không phát hiện thấy 12 Rong biển có chứa đa dạng các thành phần hoá học, chúng đều là các thành phần rất có giá trị về mặt dinh dưỡng cũng như dược liệu bao gồm: polysaccharide, carotenoid, protein, lipid, các hợp chất phenolic, các acid amin, các acid béo nhiều nối đôi, các vitamin, peptide, khoáng chất, các hợp chất chứa iod, laminaran, alginate.Trong đó, polysaccharide là thành phần chính của rong biển, được coi là nguồn carbohydrate vô tận của rong biển, được cho là rất có giá trị về mặt kinh tế và được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều nhất cho mục đích y học [20, 27]. Sulfate polysaccharide từ rong biển Polysaccharide là các hợp chất cao phân tử gồm nhiều đơn vị monosaccharide liên kết với nhau bằng liên kết glycoside. Các polysaccharide khai thác từ thực vật được ứng dụng khá phổ biến trong công nghệ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm như agar, pectin, lectin, carrageenan,.
Vì vậy, trong vài thập niên gần đây rong biển trở nên thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, góp phần phát triển khai thác tiềm năng rong biển Việt Nam. GIỚI THIỆU VỀ CÂY RONG BETAPHYCUS GELATINUS Hình 1. Rong Betaphycus gelatinus ở Ninh Thuận [35]. Tên tiếng Việt: Rong hồng vân Tên La Tinh: Fucus gelatinus Esper1800 Sphaerococcus gelatinus (Esper) C.Agardh 1822 Betaphycus gelatinus (Esper) Doty ex P.gelatinus được định danh theo khóa phân loại như sau: Giới Plantae Ngành Rhodophyta Lớp Florideophyceae Bộ Rong Giga Gigartinales Họ Rong kỳ lân Solieriaceae Chi Betaphycus Loài Betaphycus gelatinus [35] Ở Việt Nam, rong Betaphycus gelatinus phân bố tại một số tỉnh thành miền trung như Thừa Thiên Huế (Phú Lộc, Lộc Hải, mũi Hải Vân - hòn Sơn Trà), Quảng Nam (Núi Thành), Quảng Ngãi (đảo Lý Sơn - xã An Hải), Khánh Hòa (vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh), Ninh Thuận (Ninh Hải: Nhơn Hải, Thái An, Mỹ Hiệp, Mỹ Hòa; vịnh Phan Rang, Ninh Phước: Vĩnh Tường).
TỔNG QUAN VỀ CARRAGEENAN 1. Giới thiệu về carrageenan Carrageenan có nguồn gốc từ một số loài rong biển thuộc họ Rhodophyceae. Loại rong biển đặc biệt này phổ biến ở Đại Tây Dương gần Anh, Châu Âu và Bắc Mỹ [36]. Carrageenan đã được biết đến từ rất lâu đời ở các nước phương Tây.
Vào những năm 1842-1862, các nhà khoa học Schimdt, Stantord…đã phát hiện ra carrageenan có trong một loài rong đỏ có tên là Chondrus crispus và loài Irish moss thuộc họ Rhodophyceae, nhưng những khám phá của họ còn thô sơ, chưa xác định được những tính chất cũng như đặc điểm của nó. Mãi đến những năm khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, khi mà nhu cầu chiết xuất gelatin để phục vụ quân đội trở nên cấp thiết đòi hỏi cần phải có chất thay thế. Lúc này, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành và cuối cùng họ đã tìm được một chất có tính chất giống như gelatin. Đó chính là Carrageenan [37].
14 Tên Carrageenan hay Carrageenan – irish moss là tên của một thị trấn ven biển Irish thuộc Carrageenan. Từ những loài rong đỏ (Rhodophyceae) người ta đã phát hiện ra nhiều loại carrageenan khác nhau, bao gồm: kappa-carrageenan, lambda- carrageenan, iota-carrageenan, beta-carrageenan…[38]. Phân bố và sản lượng carrageenan trên thế giới và trong nước 1. Phân bố và sản lượng carrageenan trên thế giới Hằng năm trên thế giới khai thác và sản xuất khoảng 100.000 tấn khô Carrageenophyte và chế biến 15.000 tấn các dạng carrageenan từ các quốc gia: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore; Thái Lan; Nam Mỹ (Chile); Châu Âu (Đan Mạch, Liên minh Châu Âu); Châu Phi (Morocco, Nam Phi và Zanzibar (Tanzania) và Nam Nhật Bản.
Theo thống kê năm 2000 hơn 80% sản lượng carrageenan được sản xuất từ các công ty của các quốc gia sau: FMC, CP kolco của Mỹ; Danisco của Đan Mạch; Degussa của Đức; Ceamsa của Tây Ban Nha. Hiện nay công nghiệp sản xuất carrageenan không chỉ phát triển mạnh ở các nước Mỹ và Tây Âu mà còn đang phát triển mạnh ở các quốc gia Châu Á. Trong đó phải kể đến Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines. Ở Nhật Bản, agar, alginate và carrageenan được sử dụng trong chế biến thực phẩm và các ngành khác.