Chương 1: Giới thiệu lý do chọn đề tài, tổng quan bài nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ của chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu trên thế giới. Chương 3: Trình bày phương pháp và mô hình nghiên cứu, mô tả các biến và cách đo lường, dữ liệu và giả thiết nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu mô hình dùng để kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 5: Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Một số nghiên cứu về chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu - Gang Wei et al (2003) Bài nghiên cứu sử dụng mẫu là 3.994 quan sát của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Trung Quốc đƣợc thống kê trong giai đoạn từ 1995 - 2001. Bài nghiên cứu cho thấy có một mối tƣơng quan giữa cấu trúc sở hữu với chính sách cổ tức, trong đó sở hữu nhà nƣớc có mối tƣơng quan cùng chiều khá chặt với cổ tức bằng tiền mặt, còn sở hữu đại chúng có mối tƣơng quan cùng chiều chặt chẽ với cổ tức bằng cổ phiếu. Đặc biệt, bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu là phi tuyến tính.
Sở hữu nhà nƣớc càng cao, cổ tức tiền mặt càng cao. Sở hữu đại chúng càng cao, cổ tức cổ phiếu càng cao. Từ đó rút ra kết luận rằng các nhà quản lý của các công ty niêm yết Trung Quốc đã đáp ứng cho các sở thích khác nhau của các cổ đông khác nhau. Gang Wei at al cũng tìm thấy bằng chứng về ảnh hƣởng của quy mô doanh nghiệp đến chính sách cổ tức tiền mặt, trong đó các công ty lớn thì thích trả cổ tức bằng tiền mặt hơn.
Quy mô của công ty càng lớn thì chính sách chi trả cổ tức càng thiên về xu hƣớng trả tiền mặt, việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu không đƣợc ƣa chuộng ở các công ty này, trong khi các công ty nhỏ thì ngƣợc lại. Một yếu tố khác có ảnh hƣởng đến cổ tức là nợ của công ty, bài nghiên cứu cho thấy nợ có ảnh hƣởng lớn đển cổ tức bằng tiền mặt. Công ty với các cơ hội đầu tƣ tốt hơn thì ít trả cổ tức bằng tiền mặt mà ƣa thích việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu. Các công ty nhiều lợi nhuận thích trả cổ tức bằng cả tiền mặt và cổ phiếu.
Thời gian niêm yết càng lâu thì xác suất để cổ đông đƣợc nhận cổ tức bằng tiền mặt càng thấp hơn. - Luciana Mancinellia & Aydin Ozkanb (2010) Bài nghiên cứu này điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu của của các công ty, sử dụng mẫu là 139 công ty niêm yết ở Ý. Kết quả hồi qui Tobit chỉ ra rằng có tác động ngƣợc chiều giữa quyền biểu quyết của cổ đông lớn nhất công ty với các khoản thanh toán cổ tức. Theo kết quả này, quyền giám sát của cổ đông lớn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 khác (trừ cổ đông lớn nhất) là rất hạn chế.
Ở một khía cạnh nào đó, phát hiện này có thể đƣợc giải thích là do tác động thỏa thuận của cổ đông về chính sách cổ tức của công ty. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nợ trên tổng tài sản có mối quan hệ ngƣợc chiều chặt chẽ với chính sách cổ tức, nghĩa là tỷ lệ nợ của công ty càng cao thì tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty càng thấp. - Nathasa Mazna Ramli (2010) điều tra sự tác động của cấu trúc sở hữu đến chính sách cổ tức của công ty bằng cách sử dụng mẫu là 245 các công ty Malaysia đƣợc niêm yết từ năm 2002 đến năm 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy cổ đông lớn nhất có tác động cùng chiều với chính sách cổ tức và cổ đông lớn có tỷ lệ sở hữu trên 5% cũng có tác động cùng chiều với chính sách cổ tức, trong khi cổ đông lớn thứ hai thì không có tác động đến việc chi trả cổ tức của công ty.
Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố tỷ suất sinh lợi trƣớc thuế và quy mô công ty có mối quan hệ cùng chiều với chính sách cổ tức, còn các yếu tố nhƣ tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và độ lệch chuẩn lợi nhuận cổ phiếu hàng tháng có mối quan hệ ngƣợc chiều khá chặt với chính sách cổ tức. - Lina Warrad et al (2012) nghiên cứu mối quan hệ của cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức cho các công ty công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Amman trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007. Kết quả hồi quy đa biến theo OLS cho thấy có mối quan hệ cùng chiều khá chặt giữa cổ đông nƣớc ngoài và cổ đông nhà nƣớc với tỷ lệ chi trả cổ tức khi đo lƣờng bằng Tobin's Q. Ngoài ra, khi đo lƣờng bằng chỉ số ROA (thay cho Tobin's Q) thì kết quả hồi quy đa biến OLS vẫn cho thấy mối quan hệ cùng chiều khá chặt chẽ của cổ đông nƣớc ngoài với tỷ lệ chi trả cổ tức nhƣng biến cổ đông nhà nƣớc không còn ý nghĩa thống kê.
Thêm vào kết quả hồi quy cũng cho thấy đƣợc mối tƣơng quan dƣơng của quy mô công ty với tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ nợ có mối quan hệ ngƣợc chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức. - Yordying Thanatawee (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức ở Thái Lan với mẫu gồm 1927 quan sát trong giai đoạn từ 2002- 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số các biến kiểm soát thì lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp, và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên giá trị sổ sách có mối quan hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cùng chiều đối với quyết định của một công ty trong việc chi trả cổ tức. Vấn đề ở đây chính là quyết định xem có nên chi trả cổ tức và mức chi trả cổ tức là bao nhiêu.
Khi lợi nhuận tăng lên thì các công ty có xu hƣớng chi trả cổ tức nhiều hơn nhƣng họ cũng cân nhắc đến việc phân chia lợi nhuận nhƣ thế nào là hợp lý. Cơ hội phát triển công ty có mối quan hệ cùng chiều đối với chính sách cổ tức còn đòn bẩy tài chính có quan hệ ngƣợc chiều với chính sách cổ tức, tức là công ty sử dụng nợ càng nhiều thì mức chi trả cổ tức càng thấp. Bài nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lợi trƣớc thuế có mối quan hệ cùng chiều chặt chẽ với chính sách cổ tức. Về cấu trúc sở hữu, cổ đông lớn nhất và các cổ đông lớn là tổ chức có mối quan hệ cùng chiều với chính sách cổ tức, cổ đông cá nhân trong nƣớc và nƣớc ngoài có mối quan hệ ngƣợc chiều với chính sách cổ tức - Mahmoud Al-Nawaiseh (2013) nghiên cứu nhằm xác định xem cấu trúc sở hữu có liên quan đến chính sách cổ tức ở các công ty công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Amman (ASE).
Mẫu nghiên cứu bao gồm sáu mƣơi hai công ty công nghiệp đƣợc niêm yết trên ASE từ năm 2000 đến năm 2006. Kết quả cho thấy rằng sự phân tán quyền sở hữu đƣợc đo lƣờng bằng logarit tự nhiên của số cổ đông (STOCK) dƣờng nhƣ không có mối quan hệ với chính sách cổ tức tại Jordan vì nó không có ý nghĩa thống kê trong cả hai phân tích Tobit và phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất (OLS). Tỷ lệ nắm giữ bởi cổ đông nội bộ (INSD) có tác động ngƣợc chiều đến mức chi trả cổ tức. Các sở hữu khác, sở hữu gia đình tác động ngƣợc chiều nhƣng không đáng kể trong khi cổ đông là tổ chức có ảnh hƣởng cùng chiều khá lớn đến chính sách cổ tức.
Cấu trúc sở hữu đa dạng có tác động ngƣợc chiều đáng kể đối với chính sách cổ tức, còn sở hữu nƣớc ngoài có tác động cùng chiều nhƣng không đáng kể.2 Các biến lựa chọn và mối quan hệ với chính sách cổ tức theo kết quả của các nghiên cứu trƣớc đây 2.1 Chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu Jensen et al (1992) và Short et al (2002) đã chứng minh rằng việc thanh toán cổ tức là theo hƣớng ngƣợc với quyền sở hữu nội bộ, nguyên do là không cần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thiết phải chi trả cổ tức cao để giảm bớt chi phí đại diện khi cổ đông cũng đồng thời là nhà quản lý. Theo Gang Wei et al (2003) thì có một mối tƣơng quan cùng chiều chặt chẽ giữa sở hữu nhà nƣớc và cổ tức bằng tiền mặt, và mối tƣơng quan cùng chiều chặt chẽ giữa sở hữu đại chúng và cổ tức bằng cổ phiếu. Đặc biệt, bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu là phi tuyến tính. Nathasa Mazna Ramli (2010) lại cho thấy có mối quan hệ cùng chiều và đáng kể của các cổ đông lớn nhất đối với tỷ lệ chi trả cổ tức.
Trái với quan điểm cho rằng cổ đông lớn nhất có thể chiếm đoạt tài sản của công ty, nghiên cứu quan sát thấy rằng các công ty có mức sở hữu của cổ đông lớn nhất cao có mức chi trả cổ tức cao hơn. Sự hiện diện của cổ đông lớn nhất thứ hai cũng có không tác động đáng kể đến việc chi trả cổ tức của công ty. Những cổ đông lớn thứ 2 có tỷ lệ sở hữu lớn hơn 5% có tác động cùng chiều và đáng kể với tỷ lệ chi trả cổ tức. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự hiện diện của các cổ đông lớn khác sẽ khuyến khích cổ đông lớn nhất chi trả cổ tức cao hơn.
Một nghiên cứu sau đó của Lina Warrad et al (2012) thì cho thấy có mối quan hệ cùng chiều khá chặt giữa cổ đông nƣớc ngoài và cổ đông nhà nƣớc với tỷ lệ chi trả cổ tức khi đo lƣờng bằng Tobin's Q. Ngoài ra, khi đo lƣờng bằng chỉ số ROA (thay cho Tobin's Q) thì kết quả hồi quy đa biến OLS vẫn cho thấy mối quan hệ cùng chiều khá chặt chẽ của cổ đông nƣớc ngoài với tỷ lệ chi trả cổ tức nhƣng biến cổ đông nhà nƣớc không còn ý nghĩa thống kê.