mở đầu, danh mục các kí hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, kết luận khuyến nghị và phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ để dạy kiến thức mới và kiểm tra đánh giá Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới [16] Khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc tiến hành vào thế kỉ XVII – XVIII ở khoa học Vật lí, Tâm lí rồi tới ngành Động vật học. Từ những nguyên tắc về sự khác nhau giữa các loài của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859), Francis Galton đã vận dụng vào việc khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất sinh lý, tâm lí liên quan đến yếu tố di truyền, và cuối cùng ông triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm của con ngƣời liên quan đến trí tuệ.
Đến năm 1904 Alfred Binet – một nhà tâm lí học ngƣời Pháp cùng với cộng sự đã phát minh ra bài trắc nghiệm về chỉ số thông minh (IQ) khi nghiên cứu khảo sát những trẻ em bị mắc bệnh tâm thần không có khả năng tiếp thu tri thức bằng cách dạy thông thƣờng ở trƣờng học. Công trình này tiếp tục đƣợc hoàn thiện vào năm 1916 khi Alfred Binet và Lewis Terman (Ngƣời Mĩ) kết hợp với nhau. Bài trắc nghiệm nhằm xác định chỉ số IQ của họ nhanh chóng đƣợc phổ biến áp dụng ở nhiều quốc gia. Đến những thập niêm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà xuất bản trắc nghiệm ra đời ở các nƣớc phát triển, tại Hoa Kỳ xuất hiện nhiều hệ thống TNKQ dùng để đánh giá kết quả học tập của HS.
Vào đầu thế kỉ XX, E. Thormdile là ngƣời đầu tiên dùng TNKQ nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để xác định trình độ của học sinh ở môn Số học, rồi sau đó tới các môn khác. Giữa thế kỉ XX, TNKQ còn đƣợc thiết kế ở những bài chuyên ngành có tính kinh doanh. Cuối thế kỉ XX, nhờ những tiến bộ của công nghệ thông tin mà ngƣời ta đã kết hợp cài đặt nên các chƣơng trình xử lý kết quả TNKQ.
Năm 1964 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất hiện công trình nghiên cứu của Gerberich dùng máy tính điện tử xử lý các bài trắc nghiệm trên diện rộng.Vào thời điểm đó ở Anh đã có Hội đồng quốc gia, hàng năm quyết định các trắc nghiệm chuẩn trong trƣờng trung học. Trong dạy học ở các nƣớc Âu Mỹ có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật đo lƣờng trong giáo dục bằng TNKQ, nghiên cứu kỹ thuật về xây dựng câu hỏi TNKQ, ƣu và nhƣợc điểm của chúng với việc xử lý trên máy tính các số liệu nhƣ nghiên cứu của W.Stanlay… Mỗi tác giả đi sâu vào nghiên cứu đo lƣờng trong từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, xác định các loại trắc nghiệm cũng nhƣ nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm. Các kì thi tuyển sinh đại học đƣợc soạn toàn bộ (Mỹ,Nhật, Thái Lan) hoặc chủ yếu (Trung Quốc) bằng phƣơng pháp TNKQ. Trong lĩnh vực Sinh học cũng có các tác giả chủ biên về từng lĩnh vực.
Ví dụ nhƣ tác giả Doulags Sawyer chủ biên về Tế bào học, đề cập tới cấu trúc hay chức năng của màng tế bào, sự vận chuyển các chất qua màng…. Trong lĩnh vực Di truyền học đáng chú ý là các ông trình của Janice Finkelstein, Golder Wilson về bài trắc nghiệm trƣớc khi vào học giáo trình (pre-test) dùng cho sinh viên y khoa tự ôn tập, tự đánh giá khi học Di truyền ngƣời. Trong nhiều năm qua, để đo mức độ hiểu biết của học sinh phần lí thuyết và thực hành, ngƣời ta cũng áp dụng TNKQ trong các kì thi Olimlic quốc tế về Sinh học (IBO). Với hình thức này đã thu hút đƣợc sự hƣởng ứng của đông đảo các nƣớc tham gai và nó đã tỏ ra có nhiều ƣu điểm trong khi chấm bài, làm bài.
Với nhiều ƣu điểm nổi bật của hình thức TNKQ, hình thức này đã đƣợc phổ biến ở nhiều nƣớc, đặc biệt trong trƣờng học nó đã trở thành một công cụ để kiểm tra trên lớp, để học sinh tự kiểm tra kiến thức, ngay cả ở các chƣơng trình đào tạo từ xa khi mà ngƣời học nhận và gửi thông tin bài làm qua vi tính. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Dù TNKQ xuất hiện khá sớm trên thế giới nhƣng tại Việt Nam thì TNKQ lại xuất hiện muộn hơn và chủ yếu tập trung trƣớc hết ở các thành phố, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, cao đẳng. TNKQ đƣợc sử dụng lần đầu tiên tại miền Nam Việt Nam vào những thập niên 50 của thể kỉ XX, sau đó phát triển mạnh ở những thập niên 70 của thế kỉ này.
Các trƣờng trung học bắt đầu sử dụng rộng rãi hình thức này vào những năm 1956 – 1960, và đầu tiên ở môn Sinh học. Những năm tiếp theo, các tác phẩm về TNKQ lần lƣợt đƣợc xuất bản nhƣ: “Trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa năm 1963, “Phƣơng pháp học và thi vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hƣớng năm 1964. Phƣơng pháp “ Trắc nghiệm thành quả học tập” này đƣợc Dƣơng Thiệu Tống lần đầu tiên giảng dạy cho các lớp cao học và tiến sĩ về giáo dục tại Đại học Sƣ phạm Sài Gòn, và chính lúc bấy giờ khoa học TNKQ mới chính thức đƣa vào chƣơng trình đào tạo giáo viên. Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã đƣợc thi bằng TNKQ.
Sau năm 1975, do có nhiều tranh cãi nên việc áp dụng TNKQ chỉ áp dụng trong một số trƣờng học chứ không áp dụng trong thi cử. Trần Bá Hoành công bố “ Dùng phƣơng pháp test để kiểm tra nhận thức của một số khái niệm trong chƣơng trình Sinh học 9”. Năm 1986, tại khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp thuộc Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo với nội dung “Phƣơng pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phƣơng án” do tiến sỹ S.Herath trình bày và hƣớng dẫn trong chƣơng trình tài trợ của UNDP. Phát huy kết quả của hội thảo, khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp đã triển khai xây dựng hàng loạt các bộ câu hỏi trắc nghiệm ở các bộ môn, sử dụng nhƣ một phƣơng tiện để kiểm tra một số môn.
Tuy nhiên từ năm 1990 trở lại đây,TNKQ thực sự nhận đƣợc sự quan tâm. Năm 1990, Bộ Y tế đã mở khóa tập huấn cho giảng viên các trƣờng y 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế dƣới sự hỗ trợ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” trong chƣơng trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển. Chƣơng trình đã xây dựng đƣợc các bộ đánh giá bằng TNKQ chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo tại các trƣờng y dƣợc. Năm 1994, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Viện công nghệ hoàng gia Melbourne (Australia) tổ chức hội thảo với chủ đề “Kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội.
Năm 1995, trƣờng Đại học Tổng hợp cũng đã mở lớp tập huấn cho nhiều giảng viên về phƣơng pháp xây dựng TNKQ. Tại các trƣờng ĐH, việc sử dụng câu hỏi TNKQ diễn ra rộng rãi, đặc biệt là ĐH Huế vào năm 1993 triển khai soạn thảo câu hỏi TNKQ cho từng chuyên ngành, đồng thời có các nghiên cứu cho sự kiểm định các câu hỏi đó ví dụ nhƣ các đóng góp của GS. Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH Sƣ phạm Huế). Vào những năm này, T.S Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của phƣơng pháp giảng dạy tích cực ở trƣờng phổ thông bằng bài toán nhận thức” đã khẳng định đƣợc tác dụng lớn lao của TNKQ trong đánh giá kết quả học tập.
Gần đây, phƣơng pháp TNKQ đã đƣợc áp dụng trong nhiều trƣờng đại học trong cả nƣớc nhƣ: ĐH Ngoại ngữ, ĐH Sƣ phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Y Hà Nội… Năm 1996, 1997 trong các tài liệu “ Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dƣỡng dạy SGK lớp 12 cải cách giáo dục môn Sinh học”, ông đã nhiều lần nhắc đền TNKQ, soạn các câu hỏi với 3 phƣơng án lựa chọn giúp GV có ngân hang câu hỏi giúp HS ôn tập, củng cố kiên thức. Các tác giả Lê Đình Trung, Trịnh Nguyên Giao (ĐH Sƣ phạm Hà Nội),Nguyễn Viết Nhân (ĐH Y khoa TP Hồ Chí Minh), Trần Hồng Hải đã cho ra đời những bộ sách với những câu hỏi soạn sẵn tạo nhiều thuận lợi cho GV và HS áp dụng trong KTĐG. [12] Một số luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Di truyền học và Giáo dục học đã xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ cho việc KTĐG ở các trƣờng ĐH sƣ 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm và Cao đẳng sƣ phạm nhƣ các đề tài của Nguyễn Thị Kim Giang (1997), Đỗ Thị Lý (1998), Nguyễn Thị Thùy Loan (2000)… Đáng chú ý là luận án tiến sĩ của Vũ Đình Luận (2005) “ Xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ để nâng cao chất lƣợng dạy học môn Di truyền học ở các trƣờng cao đăng sƣ phạm”. Trong luận án này tác giả đề xuất về quy trình xây dựng câu hỏi TNKQ trong KTĐG kết quả học tập môn Di truyền học, xây dựng đƣợc 830 câu hỏi phần di truyền nhƣng chỉ dành cho sinh viên cao đẳng sƣ phạm.
Sau đó đã có một số đề tài liên quan tới TNKQ áp dụng với đối tƣợng học sinh phổ thông nhƣ luận văn Thạc sĩ đề cập đến xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy kiến thức mới ở Sinh học lớp 12 nhƣ đề tài của Dƣơng Thị Thu Hiền (2009), sinh học lớp 11 nhƣ Trần Sỹ Luận (1999), sinh học lớp 10 nhứ đề tài của Nguyễn Đình Huy (2007)…Cũng có đề tài áp dụng cho HS lớp 9 nhƣ đề tài của Hoàng Hải Phòng (2010) nhƣng lại chỉ sử dụng câu hỏi TNKQ để dạy kiến thức mới. Tóm lại, hiện nay định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học trong đó có phƣơng pháp dạy kiến thức mới và phƣơng pháp KTĐG để giúp HS có thể tự kiểm tra trình độ nắm vững kiến thức toàn chƣơng trình, tăng nhịp độ thu nhận thông tin phản hồi để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học, đồng thời tích cực hóa ngƣời học.