Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết đất đai là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện để hình thành và phát triển đất nước. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng cao, trong khi đất đai lại có hạn và ngày càng trở nên quý giá. Chính vì vậy đã làm giá trị quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng. Vấn đề hiện nay cần đặt ra cho công tác quản lý của nhà nước về đất đai là phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả để nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như tránh xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc hoàn chỉnh hệ thống pháp Luật đất đai. Luật đất đai 1988 ra đời nhưng trước sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường chỉ trong vòng 5 năm đưa vào sử dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng. Luật đất đai 1993 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của Luật đất đai 1988, nhưng chỉ áp dụng trong 10 năm đã phải sửa đổi 2 lần vào năm 1998 và năm 2001 để phù hợp với nhu cầu của sự phát triển. Sự ra đời của Luật đất đai 2003 được xem là bước đột phá trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước quản lý đất đai một cách chặt chẽ và người sử dụng đất có điều kiện phát huy tối đa tiềm năng của đất đai để phát triển kinh tế.
Để đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý đất đai thì công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nội dung quan trọng của Luật đất đai 2003. Nội dung này thể hiện được mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng đất, là chứng thư pháp lý, cơ sở và căn cứ quan trọng cho người sử dụng đất khi sử dụng và bảo vệ đất. Vì vậy công tác n 2 đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã và đang là vấn đề cấp bách quan trọng hiện nay. Đồng ích nằm cách trung tâm huyện khoảng 6km, là nơi giao nhau giữa các tuyến giao thông góp phần quan trọng trong giao lưu kinh tế giữa các xã trong và ngoài huyện.
Trong những năm qua nhu cầu về đất đai trên điạ bàn xã liên tục tăng làm cho quỹ đất có nhiều biến động, công tác quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn và thách thức. Vì vậy việc quản lý và sử dụng đất đai theo quy hoạch, kế hoạch nhất thiết phải thông qua công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn giúp đỡ trực tiếp, tận tình của thầy giáo ThS.Nguyễn Ngọc Anh – giảng viên khoa Quản lý Tài nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Đồng ích, Huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc đến tháng 5 năm 2014” 1. Mục đích của đề tài -Thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho hộ gia đình cá nhân trên địa bàn xã Đồng ích bao gồm công tác cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ.
-Xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình cấp GCNQSDĐ. Yêu cầu của đề tài - Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương. n 3 - Nắm được những quy định của nhà nước về công tác cấp GCNQSDĐ Theo Luật Đất đai 2003 và những quyết định của tỉnh về trình tự thủ tục cấp giấy. - Quá trình thực hiện phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
- Kết quả công tác cấp giấy GCNQSDĐ phải đảm bảo trung thực khách quan. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa về học tập: Giúp sinh viên củng cố được những kiến thức đã học trong nhà trường. - Ý nghĩa trong thực tế: Giúp cho sinh viên tiếp cận, học hỏi và đưa ra những cách xử lý đối với những tình huống trong thực tế. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2. Cơ sở khoa học Trong quá trình phát triển xã hội của loài người sự hình thành của một nền văn minh vật chất – văn hóa tinh thần, các thành tựu khoa học kỹ thuật đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất. Ngày nay kinh tế xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp.Vì vậy để sử dụng đất đai một cách khoa học, tiết kiệm mang lại hiệu quả cao nhất thì nhà nước phải có một chế độ chính sách về đất đai mang tính pháp lý song phải hợp lý và chặt chẽ nhằm quản lý toàn bộ quỹ đất. Ở Việt Nam đối tượng quản lý đất đai là toàn bộ diện tích các loại đất trong phạm vi hành chính các cấp.
Nhà nước quản lý đất đai thông qua các văn bản pháp luật, Nhà nước giao cho UBND các cấp phải thực hiện việc quản lý đất đai trên toàn bộ ranh rới hành chính đối với tất cả các loại đất theo quy định của pháp luật. Để công tác quản lý cũng như vấn đề sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao nhất,tại khoản 2 điều 6 (Luật đất đai 2003) [3] đã đề ra 13 nội dung quản lý,sử dụng đất đai như sau: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,lập bản đồ hành chính.
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Quản lý,giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Thông qua 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai ta thấy được một trong những nội dung quan trọng của việc quản lý và sử dụng đất là công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại khoản 9, 20 điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định về đăng ký quyền sử dụng đất, cấp GCQSDĐ: “Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác nhận vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.(Luật Đất đai 2003) Thông qua công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ là cơ sở để xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Đây là cơ sở để n 6 nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của cac chủ sử dụng đất. Mặt khác cũng thông qua hoạt động này mà Nhà nước thực hiện quyền giám sát tình hình thực hiện quyền giám sát tình hình sử dụng đất của các chủ sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Đảm bảo cho viêc sử dụng đất của các chủ sử dụng trên từng thửa đất tuân thủ theo đúng nề nếp kỷ cương pháp luật. Như vậy công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện dựa trên cơ sở Luật Đất đai 2003. Các văn bản pháp lý của nhà nước liên quan đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai đối với xã hội và phát triển kinh tế, nên ngay từ khi giành được độc lập Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai.
Tháng 11 năm 1953 Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ IV quyết định triệt tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của đế quốc xâm lược, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến Việt Nam và thực hiện chia lại ruộng đất cho nhân dân. Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đai cũng được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Khởi đầu là ngày 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật cải cách ruộng đất cho nhân dân.
Đến hiến pháp năm 1959 ra đời quy định 3 hình thức sở hữu ruộng đất đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Với sự ra đời của 3 hình thức sở hữu này đã giúp cho nhân dân miền Bắc yên tâm tập trung sản xuất, nâng cao năng suất nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực cho cả nước. n 7 Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng và giành độc lập Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đất đai phù hợp với điều kiện mới của đất nước. Ngày 20/6/1977 Chính phủ ban hành quyết định 169/CP với nội dung thống kê đất đai trong cả nước.
Theo quy định tại hiến pháp năm 1959 ở nước ta có 3 hình thức sở hữu về đất đai thì sau hiến pháp 1980 ra đời đã quy định hình thức sở hữu đối với đất đai ở nước ta chỉ còn một hình thức duy nhất là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất và quản lý.