Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ DÂN TỘC HMÔNG Ở HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Mèo Vạc là một huyện vùng cao núi đá nằm ở 22°10’ đến 23 °30’ vĩ độ Bắc, 104°20’ đến 105°34’ kinh độ Đông, thuộc cao nguyên Đồng Văn – huyện Mèo Vạc nằm về phía đông bắc của tỉnh Hà Giang, cách thị xã Hà Giang 164km, cách thủ đô Hà Nội gần 500km.
Mèo Vạc là nơi có đỉnh Mã Pì Lèng được mệnh danh là đệ nhất hùng quan phía cực Bắc của Tổ quốc. Phía đông Mèo Vạc giáp Trung Quốc và huyện Bảo Lạc (Cao Bằng), phía nam giáp huyện Yên Minh (Hà Giang) và huyện Bảo Lâm (Cao Bằng), phía tây giáp huyện Đồng Văn, phía bắc giáp huyện Đồng Văn và Trung Quốc. Trên địa bàn huyện có quốc lộ 4C chạy qua. Địa hình Huyện Mèo Vạc có đường biên giới quốc gia tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc), độ cao trung bình từ 1000 – 1600m, gồm nhiều khu vực núi đá vôi, nằm sát với chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, có đỉnh Mã Pì Lèng cao hơn 1600 - 1800 m so với mực nước biển và có sông Nho Quế, sông Gâm chảy qua.
Mèo Vạc có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị phân hóa mạnh, phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm, với thảm thực vật chủ yếu là loại cây thấp, mật độ thưa. Địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, chủ yếu là núi đá. Do vậy việc sản xuất gặp nhiều khó khăn.
Khí hậu Là huyện miền núi cao nên khí hậu ở Mèo Vạc ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố vị trí địa lý (22°10’ đến 23 °30’ vĩ độ Bắc, 104°20’ đến 105°34’ kinh độ Khóa luận tốt nghiệp năm 2013 12 Tập quán canh tác trên nương đá tai mèo của. Nông Thị Yến Đông) nên khí hậu mang tính ôn đới, chia làm nhiều tiểu vùng khác nhau. Khí hậu ở Mèo Vạc rất khắc nghiệt, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lạnh (mùa khô) từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa (mùa nóng) từ tháng 4 đến tháng 9. Vào mùa khô thường có sương mù rõ rệt, sương muối, thời tiết khô hanh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21,6° - 23,9°. Nét nổi bật của khí hậu nơi đây là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Thổ nhưỡng Mèo Vạc chủ yếu là đất đá vôi, với tổng diện tích toàn huyện: 576.668 km2, tổng diện tích đất tự nhiên: 56. Trong đó: diện tích đất nông nghiệp: 18.932,34 ha, diện tích đất lâm nghiệp: 25.602,72 ha, đất phi nông nghiệp: 1.796,74 ha, đất chưa sử dụng: 9.
Hơn 90 % diện tích của huyện là núi đá vôi với 3/4 diện tích là đồi núi, thiên nhiên ban tặng cho Mèo Vạc nguồn tài nguyên tuy nhỏ bé nhưng rất phong phú: thổ nhưỡng, rừng, du lịch sinh thái. Thổ nhưỡng ở huyện Mèo Vạc khá phong phú với nhóm đất xám chiếm hơn 70% đất tự nhiên. Đây là loại đất thích hợp trồng những cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị phân hóa mạnh, phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm.
Thủy văn Huyện có nhiều sông suối, đặc biệt có sông Nho Quế và sông Gâm chảy qua. Sông ở Mèo Vạc có độ sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, tạo điều kiện phát triển thủy điện vừa và nhỏ (có nhà máy thủy điện Nho Quế 1 và Nho Quế 3). Chế độ mưa khá phong phú, bình quân hàng năm vào khoảng 2. Lượng mưa trung bình khoảng 7,5/10, tập trung cao nhất là cuối mùa đông lên tới 8 – 9/10 và tương đối ít nắng: cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều nhất chỉ đạt 181 giờ, tháng ít nhất 74 giờ.
Khóa luận tốt nghiệp năm 2013 13 Tập quán canh tác trên nương đá tai mèo của. Nông Thị Yến 1. Thảm thực vật và hệ động vật Là một huyện vùng núi cao, núi đá chiếm hơn 3/4 diện tích, môi trường thuận lợi cho thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng phát triển. Thảm động – thực vật: phong phú với các loại gỗ quý như lim, táu.
Các cây dược liệu quý như tam thất, quế. Và nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo gấm, lợn rừng, khỉ, hoẵng. Thảm thực vật ở huyện Mèo Vạc phong phú nên được người dân trong huyện tận dụng vào rừng chặt gỗ về để làm ván. Hiện nay những thảm động thực vật này không còn nhiều, do con người chặt phá rừng làm mất đi giá trị sinh thái của huyện vùng cao núi đá tai mèo.
Huyện Mèo Vạc là địa bàn có hai con sông lớn chạy qua là sông Nho Quế và sông Gâm. Tuy không có thế mạnh về thủy sản nhưng lại có thể tìm thấy những loài thủy sản quý hiếm, có giá trị đặc biệt. Trên lưu vực của các con sông có thể tìm thấy các loại tôm, cua, cá chỉ có ở khu vực đầu nguồn sông nhiều ghềnh đá, đặc biệt ở đây có các loại cá dầm xanh, cá anh vũ ngon nổi tiếng, đã từng là những loại đặc sản cúng tiến cho cung đình. Tài nguyên du lịch sinh thái – nhân văn Là một trong bốn huyện vùng cao nằm trong khu vực của Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan vùng cao núi đá của huyện Mèo Vạc đã tạo nên một nét hoang sơ, tinh khiết.
Với những dãy núi nhấp nhô, hùng vĩ; những khe suối, thác nước, hang động ở khắp trên địa bàn là nguồn tiềm năng du lịch sinh thái giàu có của huyện Mèo Vạc nói riêng cũng như của Hà Giang nói chung. Huyện mèo Vạc có các danh thắng nổi tiếng, thu hút được đông đảo du khác thập phương như đỉnh Mã Pì Lèng, sông Nho Quế và những hang động kỳ thú, đẹp mắt. Huyện Mèo Vạc là nơi sinh tụ lâu đời của nhiều tộc người (có 12 dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện). Mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng, làm nên tính độc đáo, đặc sắc của vùng đất nơi cao nguyên.
Ngoài các lễ hội mang tính cộng đồng tiêu biểu như chợ tình Khau Vai, lễ hội Cầu mưa của người Lô Khóa luận tốt nghiệp năm 2013 14 Tập quán canh tác trên nương đá tai mèo của. Nông Thị Yến Lô, lễ hội Gầu tào của người Hmông, lễ cấp sắc của người Dao. còn có một hệ thống phong tục tập quán và tín ngưỡng riêng của các dân tộc. Chính sự phong phú, đặc sắc về văn hóa cùng với sự kỳ vĩ của thiên nhiên là tiềm năng để huyện Mèo vạc phát triển du lịch sinh thái tộc người.
Điều kiện xã hội 1. Lịch sử hình thành, dân cư và thành phần dân tộc Lịch sử hình thành vùng đất Thời kỳ vua Hùng, Hà Giang hôm nay là địa bàn cư trú của cư dân bộ tộc Tây Vu. Đến thế kỉ XI, nhà Lý chia khu vực hành chính nước ta thành lộ, phủ, huyện; miền núi chia thành châu, trại và vùng đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên. Vào đầu thời Trần, khu vực Hà Giang – Tuyên Quang gọi là châu Tuyên Quang, thuộc lộ Quốc Oai.
Năm 1397, đổi thành trấn Tuyên Quang. Sau khi xâm chiếm nước ta năm 1407, nhà Minh đổi châu Tuyên Quang thành châu Tuyên Hóa và đến năm 1408 lại đổi thành phủ Tuyên Hóa. Thời vua Lê Thái Tổ, vùng đất hà Giang – Tuyên Quang thuộc Tây đạo. Đến năm 1466, Lê thánh Tông chia nước làm 12 đạo thừa tuyên, đặt thừa tuyên Tuyên Quang.
Năm 1490, đổi là xứ Tuyên Quang. Đời Hồng Thuận (1509 – 1516), đổi xứ Tuyên Quang làm trấn Minh Quang. Năm 1802, Gia Long thiết lập vương triều nhà Nguyễn, đổi xứ Tuyên Quang thành trấn Tuyên Quang. Đến năm Minh Mệnh thứ XII (năm 1831), đổi trấn Tuyên Quang thành tỉnh Tuyên Quang, Năm 1842, triều đình nhà Nguyễn chia tỉnh Tuyên Quang thành 3 hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang.
Ngày 20/8/1891, Toàn quyền Đông Dương Đờ Lanetxăng ra Quyết định thành lập tỉnh Hà Giang gồm 2 châu (Bắc Quang, Vị Xuyên), 2 đại lý (Đồng Văn, Hoàng Su Phì) với 13 tổng và 80 xã. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Giang là một đơn vị hành chính cấp tỉnh trong cơ cấu hành chính của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kỳ họp thứ hai ngày Khóa luận tốt nghiệp năm 2013 15 Tập quán canh tác trên nương đá tai mèo của. Nông Thị Yến 27/12/1975, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang hợp nhất thành tỉnh Hà Tuyên vào đầu tháng 4/1976.
Đến ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII đã ra Quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh: Hà Giang và Tuyên Quang – tỉnh Hà Giang được tái lập. Năm 1950, tỉnh Hà Giang gồm 4 huyện là Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì và Đồng Văn. Ngày 15/12/1962 Hội đồng Chính Phủ đã ban hành quyết định số 21/QĐ-CP tách Đồng Văn thành 3 huyện: Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn. Ngày 21/10/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng chính phủ) ban hành quyết định 179/HĐBT tách 3 xã Niêm Sơn, Nậm Ban, Tất Ngà của Yên Minh để sát nhập vào Mèo Vạc.
Trước năm 1975 Mèo Vạc là một huyện của tỉnh Hà Giang, từ năm 1976 – 1991 là huyện của tỉnh Hà Tuyên, sau năm 1991 trở lại là huyện của tỉnh Hà Giang. Hiện nay huyện Mèo Vạc có 18 đơn vị hành chính, trong đó: 1 thị trấn Mèo Vạc và 17 xã (Pả Vi, Sủng Máng, Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn, Khâu Vai, Lũng Chinh, Nậm Ban, Niêm Sơn, Tả Lủng, Pải Lủng, Sơn Vĩ, Sủng Trà, Tát Ngà, Thượng Phùng, Xín Cái, Niêm Tòng, Lũng Pù). Dân cư và thành phần dân tộc Theo thống kê ngày 31/12/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Mèo Vạc, toàn huyện có 73. Trước đây, Mèo Vạc cũng là vùng dân cư thưa thớt, nhưng những năm gần đây (từ 1960 đến nay) dân số của Mèo Vạc tăng lên rất nhanh.
Tuy nhiên mật độ dân số ở Mèo Vạc không đồng đều. Dân cư tập trung ở khu vực quanh thị trấn Mèo Vạc như xã Pả Vi, Sủng Máng, Sủng Trà; các xã biên giới dân cư thưa thớt như Thượng Phùng, Xín Cái, Giàng Chu Phìn, Cán Chu Phìn. Các dân tộc thiểu số ở Mèo Vạc cư trú phân tán và xen kẽ. Sự gia tăng dân số ở Mèo Vạc chủ yếu là do mức sinh cao.