PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn ca lâm sàng. Theo các nghiên cứu dịch tễ học trong xã hội khoảng từ 2-5% trong mẫu dân số chung và 29-45% trong mẫu dân số lâm sàng mắc rối loạn lo âu phân ly. Nếu không được hỗ trợ kịp thời sẽ có 1/3 trẻ có rối loạn lo âu phân ly sẽ có chẩn đoán thêm là rối loạn lo âu toàn thể, trong giai đoạn phát triển sau này, 1/3 trong số đó có thể phát triển thành rối loạn trầm cảm.
Có từ 1 – 3% trẻ trong độ tuổi đến trường từ chối đi học trong mỗi năm học, khoảng 8% học sinh từ chối đi học ở một thời điểm nào đó trong suốt quãng đời đi học và đây là nguyên nhân thường gặp thứ 3 gây cho trẻ thất bại trong học tập, chiếm 5% các lý do đến khám với bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý. Có khoảng 1/3 trẻ có giai đoạn đã từng từ chối đi học sẽ có thêm 1 giai đoạn nữa có thể diễn biến sang trầm cảm, một số nghiên cứu ghi nhận từ chối đi học hay gặp ở nữ hơn, một số còn lại cho là tỉ lệ nam , nữ là ngang nhau, đỉnh tuổi khởi phát là 6 – 7 tuổi, 10 – 11 tuổi và 14 – 15 tuổi, tương ứng với các thời điểm chuyển tiếp giữa các cấp học, thay đổi trường , rối loạn lo âu phân ly trẻ có thể gặp ở mọi thành phần kinh tế – xã hội khác nhau [1]. Theo nghiên cứu có hơn 50% trẻ từ chối đi học có các rối loạn hành vi khác và 75% trẻ từ chối đi học có rối loạn lo âu thường gặp là lo âu phân ly ở các học sinh tiểu học và ám ảnh sợ khoảng trống, hoặc ám ảnh sợ xã hội ở trẻ lớn và trẻ càng lớn càng nhiều khả năng bị trầm cảm. Như vậy, nếu không được kịp thời phát hiện và hỗ trợ trẻ rối loạn lo âu phân ly sẽ có nhưng diễn biến trầm trọng hơn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập, nhận thức, hành vi, và phát triển tâm lý sau này [2].
Trong quá trình thực tập tại cơ sở Viện Nhi Trung ương, tôi đã làm việc với một trường hợp học sinh tiểu học từ chối đi học, trẻ lăn ra nhà, ôm chân, khóc, nhập viện trong tình trạng bồn chồn lo âu, cả đêm không ngủ, trở lên bám mẹ, các câu chuyện em kể không rõ ràng, rất lộn xộn, khí sắc nhợt nhạt, mệt mỏi, rất dễ khóc, hỏi chuyện trẻ không nói, nhắc lại cảm giác sợ đi học rất nhiều, tay nắm chặt rất hồi hộp. Trẻ được khám và chẩn đoán bởi bác sĩ tâm thần cần điều trị và hỗ trợ tâm lý sau khi nhập viện và uống thuốc- gia đình trẻ mong muốn được hỗ trợ trị liệu tâm lý 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho con mình, nhận được sự đồng ý của gia đình nên tôi đã tiến hành hỗ trợ tâm lý dưới sự cho phép của nhà tâm lý giám sát tại cơ sở thực tập để tiếp nhận ca. Nhiệm vụ nghiên cứu. Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu thu thập thông tin, phân tích trường hợp, lên kế hoạch và tiến hành can thiệp hỗ trợ tâm lý cho trường hợp học sinh mắc rối loạn lo âu phân ly, từ đó đề xuất một số kiến nghị trong can thiệp và trị liệu tâm lý phù hợp với đặc điểm của trẻ.
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài: xác định tổng quan nghiên cứu vấn đề rối loạn lo âu phân ly, làm rõ các khái niệm công cụ, các lý thuyết được sử dụng để định hình trường hợp, các phương pháp trị liệu cho trường hợp cụ thể. - Nghiên cứu thực tiễn: trường hợp trẻ có rối loạn lo âu phân ly, đánh giá, chẩn đoán, phân tích chân dung lâm sàng, lên kế hoạch và tiến hành trị liệu tâm lý, đánh giá hiệu quả can thiệp tâm lý. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề của trẻ. - Đề xuất và kiến nghị, liên quan đến quá trình trị liệu trẻ có rối loạn lo âu phân ly với trường hợp cụ thể.
Khách thể nghiên cứu: Một trường hợp trẻ 7 tuổi có rối loạn lo âu phân ly. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài: xác định tổng quan nghiên cứu vấn đề rối loạn lo âu phân ly, làm rõ các khái niệm công cụ, các lý thuyết được sử dụng để định hình trường hợp, các phương pháp trị liệu cho trường hợp cụ thể. - Nghiên cứu thực tiễn: trường hợp trẻ có rối loạn lo âu phân ly, đánh giá, chẩn đoán, phân tích chân dung lâm sàng, lên kế hoạch và tiến hành trị liệu tâm lý, đánh giá hiệu quả can thiệp tâm lý. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề của trẻ.
- Đề xuất và kiến nghị, liên quan đến quá trình trị liệu trẻ có rối loạn lo âu phân ly với trường hợp cụ thể. Khách thể nghiên cứu : Một học sinh 7 tuổi mắc rối loạn lo âu phân ly. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phƣơng pháp nghiên cứu - Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp này giúp chúng tôi có thêm nhiều cơ sở để tiến hành nghiên cứu đề tài.
Qua đây, chúng tôi biết được rằng, những nghiên cứu đi trước đã làm được những gì, nghiên cứu của chúng tôi góp phần củng cố luận điểm nào, bổ sung luận điểm nào. Những tài liệu mà chúng tôi sử dụng đề viết tổng quan cho đề nghiên cứu được tham khảo từ các tạp chí khoa học, từ luận văn, luận án tiến sĩ, cũng như trên các trang web tâm lý học uy tín bằng tiếng Anh, tiếng việt. Phương pháp quan sát lâm sàng. Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát lâm sàng được thực hiện với mục đích quan sát những hành vi, biểu hiện về cảm xúc của thân chủ thông qua gương mặt và tư thế ngồi trong các phiên trị liệu từ đó đưa ra những bằng chứng cho thân chủ biết về sự tiến triển của thân chủ sau những phiên làm việc.
Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng. Hỏi chuyện lâm sàng hay phỏng vấn lâm sàng đây là một trong những phương pháp chủ đạo trong khi thực hiện nghiên cứu này. Mục đích của việc sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu này nhằm đánh giá nhận thức, cảm xúc, hành vi cũng như các đặc điểm nhân cách của thân chủ, phân tích và sắp xếp chúng vào một hiện tượng tâm lý hoặc tâm bệnh lý nào đó với các tiêu chí như loại hình, mức độ… Việc sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu này không chỉ nhằm lắng nghe những than phiền của thân chủ về vấn đề của thân chủ mà còn làm rõ những động cơ tiềm ẩn và các cơ chế tâm lý bên trong của thân chủ, cũng như trợ giúp tâm lý “khẩn cấp” cho thân chủ trong những trường hợp cần thiết. Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi nghiên cứu một cách tích cực, toàn diện về một trường hợp cụ thể.
Thông qua sự phát triển về thể chất, sự phát triển về tâm lý và sự phát triển các mối quan hệ xã hội qua từng giai đoạn, từ đó chúng tôi có thể phân tích, lý giải phục vụ cho quá trình nghiên cứu. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương pháp trắc nghiệm/ thang đo: Phương pháp này giúp chúng tôi đánh giá tìm hiểu vấn đề của thân chủ một khía cạnh định lượng rõ ràng. Thông qua các đánh giá chúng tôi xác định được vấn đề của thân chủ, từ đó đưa ra hướng chẩn đoán cho vấn đề. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU PHÂN LY Ở TRẺ EM 1. Điểm luận một số nghiên cứu về lo âu phân ly ở trẻ em 1. Các hướng nghiên cứu về tỉ lệ dịch tễ, biểu hiện và nguyên nhân của lo âu phân ly. Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, Rối loạn lo âu phân ly (SAD) là một biểu lộ quá mức của nỗi sợ hãi và đau khổ khi phải đối mặt với tình huống tách ra khỏi gia đình hoặc từ một nhân vật cụ thể có gắn bó tình cảm.
Sự lo lắng thể hiện quá mức này được phân loại là sự phát triển không bình thường theo mức độ phát triển và tuổi tác dự kiến của trẻ. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng dao động từ sự lo lắng phỏng đoán đến lo lắng toàn diện về sự tách biệt. SAD có thể gây ra những tác động tiêu cực đáng kể trong các lĩnh vực hoạt động xã hội và tình cảm, cuộc sống gia đình và sức khỏe thể chất của cá nhân bị rối loạn. Thời gian của vấn đề này phải tồn tại ít nhất bốn tuần và phải có mặt trước khi một đứa trẻ 18 tuổi được chẩn đoán là SAD ở trẻ em, nhưng bây giờ SAD có thể được chẩn đoán ở người lớn với thời gian kéo dài 6 tháng theo quy định bởi DSM-5[7].
Một dấu hiệu quan trọng để thiết lập sự khác biệt giữa SAD và các lo âu tâm lý hoặc rối loạn tâm lý khác là xem xét nơi mà sự sợ hãi tách biệt của cá nhân đó bắt nguồn từ đâu; điều này có thể được thực hiện bằng cách hỏi “những gì họ sợ sẽ xảy ra trong một sự tách biệt với người khác có vai trò quan trọng của họ”. Điều nổi bật về SAD là những hành vi tránh né hiện diện bên trong một cá nhân. Các cá nhân thường biểu lộ sự đau khổ quá mức biểu hiện bằng cách khóc, lặp đi lặp lại các phàn nàn về các triệu chứng thể chất (ví dụ: đau bụng, nhức đầu…), tránh (chẳng hạn, từ chối đi học, ngủ một mình, bị bỏ lại một mình trong nhà, tham gia vào các sự kiện xã hội, đi làm…) và tham gia vào các hành vi an toàn (ví dụ, các cuộc gọi thường xuyên đến hoặc từ những người quan trọng, và hoặc người chăm sóc chính). Số liệu từ các cuộc điều tra sức khỏe tâm thần thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy tỷ lệ tồn tại của rối loạn lo âu phân ly khá cao tới 4,8% ở các quốc gia, với gần một nửa trong đó tồn tại sau 18 tuổi.
Báo cáo dữ liệu lâm sàng tỷ lệ, rối loạn lo âu phân ly phổ biến từ 20% đến 40%, cho thấy tỷ lệ đi kèm cao với hầu hết các rối loạn lo âu. Các dữ liệu dịch tễ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.