Chương 1 đã trình bày được tổng quan một số công trình nghiên cứu của các tác giả. Các nghiên cứu đã đặt một số vấn đề và đề xuất các giải pháp khắc phục vấn đề đứng trên góc nhìn của người làm công tác quản lý tài chính. Qua nghiên cứu tổng quan tác giả đã tổng hợp những lỗ hỏng được các tác giả khẳng định, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới nhằm hoàn thiện hơn các vấn đề. Các nghiên cứu trước đây đưa ra các phân tích về sự cân đối quỹ BHXH chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố, tuy nhiên chưa có khái niệm về sự cân đối quỹ BHXH chịu ảnh hưởng của HTTTKT trong tổ chức có trang bị CNTT hỗ trợ xử lý các thông tin liên quan đến việc sử dụng và quản lý quỹ BHXH nói chung và quỹ BHXH bắt buộc nói riêng.
9 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÂN ĐỐI QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 2.1 Khái niệm bảo hiểm và bảo hiểm xã hội 2.1 Khái niệm bảo hiểm “Bảo hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”. Định nghĩa này chỉ mới đề cập đến phương pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà chưa rõ phương thức sử dụng nó. “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ 3”. Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ.
Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm. Đây là định nghĩa mang tính chung nhất của bảo hiểm. Có định nghĩa chỉ rõ đặc trưng riêng của một loại bảo hiểm, chẳng hạn “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động và gia đình họ khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia và sự tài trợ của nhà nước”.
Định nghĩa này chỉ rõ mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ thông qua sử dụng quỹ huy động từ người tham gia (người sử dụng và người lao động) và sự tài trợ của nhà nước để trợ cấp cho người lao động trong trường hợp người lao động bị giảm sức lao động (ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…) hoặc mất sức lao động (hết tuổi lao động…) 2.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hào (2015) đã chỉ rõ khái niệm về BHXH theo các góc độ khác nhau như: 10 Từ giác độ pháp luật: BHXH là một định chế bảo vệ người lao động sử dụng nguồn đóng góp của mình, đóng góp của người sử dụng lao động (nếu có) và được sự tài trợ, bảo hộ của nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người lao động được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc người lao động bị chết. Dưới giác độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện bảo hiểm xảy ra, trợ giúp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ bảo hiểm xã hội do các bên tham gia đóng góp, nhằm góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đảm bảo an sinh xã hội. Theo tự điển bách khoa Việt Nam, tập 1: BHXH xét về chính trị, kinh tế là sự thay thế hoặc bù đấp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất.
Dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Theo luật BHXH Việt Nam 2006 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007): BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu về BHXH và những vấn đề có liên quan đến phạm trù này, có thể nêu khái niệm về BHXH một cách khái quát như sau: BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đấp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất 11 khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.2 Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm xã hội Theo (Bộ lao động TB & XH, 2010) vai trò của BHXH thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, BHXH nhằm ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp…sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm. Thứ hai, BHXH góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động.
Thứ ba, BHXH giúp ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm ASXH bền vững.3 Mối quan hệ giữa các bên trong hoạt động bảo hiểm xã hội Mối quan hệ nội tại của hệ thống: BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ.
Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết (Hồ Sĩ Sà, 2000). Mối Quan hệ bên ngoài: Chính sách BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của nhà nước trước hết là với chính sách về ASXH và các chính sách xã hội. Dưới giác độ cơ cấu, có thể mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội như sau: 12 Chính sách xã hội Chính sách ASXH phổ biến Chính sách xã hội khác CS CS CS CS Các CS CS CS BH BH trợ trợ dịch dân lao chăm … XH YT giúp cấp vụ số động sóc xã gia xã việc sức hội đình hội làm khỏe công dân cộng cư Hình 2.1: Hệ thống chính sách xã hội (Nguồn: http://www.vn/Nghiên cứu & Trao đổi/Đặc trưng cơ bản và các mối quan hệ của bảo hiểm xã hội) 2.4 Sự cân đối của quỹ BHXH và những nguyên nhân có thể gây mất cân đối quỹ BHXH 2.1 Tổng quan về quỹ BHXH 2.1 Khái niệm quỹ BHXH Trong đời sống kinh tế - xã hội có rất nhiều loại quỹ khác nhau như quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ dự trữ quốc gia. Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho hoạt động nào đó theo những mục tiêu và định hướng trước.
Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của bên tham gia BHXH (bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp) và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả các trợ cấp BHXH, các chi phí nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật. Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất, đảm bảo cho toàn bộ, hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.2 Đặc điểm quỹ BHXH - Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tài chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà nước với các tổ chức tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính dân cư. - Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn trả.
Tính không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối với người đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh con. - Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích lợi nhuận, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện lịch sữ trong từng thời kỳ của từng quốc gia.