Chương 1: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố hữu qua các chặng đường thơ. Chương 2: Hệ thống cảm xúc thế sự - đời tư thường nhật. Chương 3: Một vài đặc điểm hình thức nghệ thuật. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu qua các chặng đƣờng thơ Cảm hứng chủ đạo là “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp cận tác phẩm” [24, tr 38].
Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong văn học nghệ thuật là một trong những hướng tiếp cận nội dung tư tưởng tác phẩm thường thấy xưa nay. Thơ Tố Hữu bao trùm ba cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng dân tộc lịch sử, cảm hứng trữ tình công dân, cảm hứng thế sự đời tư. Cảm hứng dân tộc lịch sử Nhà thơ Tố Hữu sinh và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đen tối, bản thân ông đã chứng kiến những biến động dữ dội, những thăng trầm của dân tộc những năm 20 của thế kỷ XX. Trước hiện thực đó nhiều người đã khó khăn trong việc xác định cho mình một hướng vào đời, Tố Hữu cũng có lúc băn khoăn: Bâng khuâng đứng trước hai dòng nước Chọn một dòng hay để nước trôi ? (Dậy lên thanh niên) Tố Hữu đã tìm được câu trả lời cho cuộc đời mình, ông không ngần ngại đến với cách mạng, gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp cao cả ấy, buộc tâm hồn mình với “bao hồn khổ”.
Và khi hòa mình vào cuộc sống rộng lớn của đất nước thơ của ông gắn bó máu thịt với cuộc đời, với cuộc đấu tranh gian khổ của quần chúng nhân dân. Nhìn lại bảy tập thơ đồ sộ, người ta thấy thơ Tố Hữu luôn theo sát những chặng đường cách mạng của dân tộc, phản ánh một cách chân thực hiện thực sôi động của đất nước từ những năm 30 đến hết thế kỷ XX. Mỗi tập thơ là sự kết tinh những sự kiện trọng đại, những chặng đường lịch sử vẻ vang và không ít 9 những thăng trầm, gian khổ của dân tộc, của cách mạng Việt Nam. Chính vì thế có thể tìm thấy trong sự nghiệp thơ ca của ông một cuốn “biên niên sử” về lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là một trong những người gieo hạt, khai sinh ra nền văn học cách mạng Việt Nam hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp thơ ca của ông hòa quyện vào nhau trong từng bước đi của lịch sử và thời đại. Trong lời tự bạch của mình, in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, ông viết: Suốt đời, tôi phấn đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc và lý tưởng cộng sản. Cùng với hoạt động cách mạng, tôi làm thơ cũng vì sự nghiệp cách mạng.
Đối với tôi: Trăm năm duyên kiếp: Đảng và Thơ. Toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu chính là sự quán xuyến thống nhất mối quan hệ đó. Từng tập thơ trong từng giai đoạn đều đánh dấu những bước ngoặt trọng đại của cách mạng Việt Nam. Thơ ông là tiếng nói đồng hành cùng lịch sử - dân tộc - thời đại - cách mạng, thể hiện sự nhạy cảm thi sĩ của ông trước những vấn đề lớn lao của hiện thực và tình cảm của con người Việt Nam yêu nước, yêu lý tưởng.
Nó là sức mạnh tinh thần của nhiều thế hệ cho đến hôm nay và mai sau. Từ những vần thơ giàu nhiệt huyết tuổi trẻ. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ - Mặt trời chân lý chói qua tim”, đến những vần thơ cuối đời khát khao bỏng cháy lòng yêu đời: “Ta bước tiếp trên đôi chân tráng kiện - Lại nghĩ suy bằng chính óc tim mình - Mừng thế kỷ hai mươi mốt đến - Cho sáng bừng mặt đất, ánh bình minh”, Tố Hữu đã đi trọn một hành trình thơ và hành trình đời tuyệt đẹp. “Duyên kiếp Đảng và thơ” đã làm nên một Tố Hữu - công dân và một Tố Hữu - thi sĩ hài hòa, cao cả.
Từ tác phẩm đầu tay Từ ấy đến Việt Bắc, Ra trận, Máu và hoa đến tác phẩm sau cùng Một tiếng đờn, Ta với ta là minh chứng cho cuộc sống - thơ và thơ - cuộc sống của Tố Hữu. Từ ấy là tập thơ đầu tay của chàng trai xứ Huế này, gồm 71 bài được chia làm 3 phần tương ứng với ba giai đoạn lịch sử: Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài), như một bộ phim phóng sự tài liệu 3 tập bằng thơ 10 ghi lại một thời kỳ lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam. Kể từ khi “mặt trời chân lý chói qua tim”, Tố Hữu đã để lòng mình “trang trải khắp trăm nơi” với bao số phận hẩm hiu, trôi nổi như em bé mồ côi, chị vú em, lão đầy tớ. và kêu gọi mọi người cùng đồng cảm: Tôi không muốn mời anh đi xa lạ Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn Kể làm sao cho hết cảnh lầm than Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả.
(Hai đứa bé) Hiện tại phũ phàng ấy càng lúc càng làm cho nhà thơ dửng dưng, giận dữ: Ta nện gót trên đường phố Huế Dửng dưng không một cảm tình chi! Không gian sặc sụa mùi ô uế Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi. (Dửng dưng) Vì vậy mà tác giả nguyện “Tôi buộc hồn tôi với mọi người” để đấu tranh, hy vọng. Sau bao “máu lửa” và “xiềng xích”, Tố Hữu đã reo vui trong ngày hội Huế và Việt Nam giải phóng năm 1945. Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi! Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi (.) Ai dám cấm ta say, say thần thánh Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh Thổi phồng lên.
Tim bỗng hóa mặt trời (Huế tháng Tám) Trong kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu đã có bước trưởng thành vượt bậc trong sáng tạo và nhận thức tư tưởng qua tập thơ Việt Bắc - tác phẩm trữ tình hùng ca hay nhất thời này, thể hiện sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng, Bác Hồ và những tình cảm kết tinh của con người Việt 11 Nam kháng chiến bằng tiếng nói nghệ thuật vừa dân tộc vừa hiện đại; vừa riêng vừa chung. thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân bản. Với tư cách là chủ thể trữ tình nhập vai nồng nhiệt, Tố Hữu đã thay mặt đồng đội, đồng bào phản ánh chân thực cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, ngợi ca những con người có tâm hồn sáng trong và dũng cảm. Trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã bám sát hiện thực cuộc kháng chiến của dân tộc để ghi lại một cách chân thực nhất về sức mạnh và tinh thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân ta.
Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, Ta đi tới, Cá nước, Phá đường, Bà Bầm, Bà Bủ, Lên Tây Bắc, Sáng tháng Năm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc, Ta đi tới…, mỗi bài thơ của Tố Hữu như những thước phim tư liệu chân thực mà sinh động có sức cổ vũ tinh thần lớn lao đối với quân và dân ta tiến lên phía trước để giành chiến thắng. Tố Hữu lên chiến khu Việt Bắc vừa tham gia chiến đấu, vừa làm thơ khích lệ đồng bào trên mọi mặt trận: chống mù chữ, chống đói, chống càn… Hơi thở của thời đại, của cuộc kháng chiến thần thánh ấy đã đi vào thơ ông rất tự nhiên, rất gần gũi như tiếng đào công sự chống càn vậy: Lục cục lào cào Anh cuốc em cuốc Đất lở đá nhào! Nào anh bên trai Nào em bên nữ Ta thi nhau thử Ai nào hơn ai! Anh tài thì em cũng tài Đường dài ta xẻ, sức dai ngại gì. Đường đi ngoắt ngoéo chữ chi Hố ngang hố dọc chữ i chữ tờ. (Phá đường) 12 Việt Bắc phản ánh đúng không khí của thời đại, đó là không khí sục sôi lên đường ra mặt trận của lớp lớp con người Việt Nam.
Nó như một cuộc biểu dương sức mạnh của dân tộc: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. (Việt Bắc) Trên phông nền lịch sử ấy Tố Hữu đã miêu tả và ngợi ca những con người anh hùng, bất khuất, đại diện ưu tú nhất cho sức mạnh, lý tưởng và tinh thần của dân tộc. Mãi còn đây trong ký ức chúng ta hình ảnh cô gái phá đường nén tình riêng vì nghĩa lớn: Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét, nước làng em lo Nhà em phơi lúa chưa khô Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong Nhà em con bế con bồng Em cũng theo chồng đi phá đường quan Con ơi, con ngủ cho ngoan Sang canh trăng lặn buổi tan mẹ về.
(Phá đường) Mãi còn đây hình ảnh bà Bầm - người mẹ yêu thương của bao nhiêu chiến sĩ để chiều chiều “có đứa con xa nhớ Bầm” trên đường ra mặt trận: Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi trăm núi, ngàn khe 13 Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. (Bầm ơi) Hình ảnh người lính cụ Hồ trong những ngày kháng chiến lại hiện lên với quy mô và tầm vóc hiên ngang, hoành tráng: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo. (Lên Tây Bắc) Đó chính là những “Chiến sĩ anh hùng - Đầu nung lửa sắt - Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt - Máu trộn bùn non - Gan không núng - Chí không mòn” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên) để làm nên chiến công Điện Biên Phủ lịch sử. Và đẹp nhất trong biển lớn nhân dân, là hình tượng Bác Hồ - hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh thiêng liêng mà gần gũi.
Mối quan hệ giữa cái phi thường và cái bình thường được hóa giải trong nhau để làm nên sự hài hòa, cao quý: Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị Màu quê hương bền bỉ đậm đà Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta Ta bỗng lớn ở bên Người một chút. (Sáng tháng năm) Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng khép lại chín năm kháng chiến, hồn thơ Tố Hữu lại có dịp bay cao, bay xa trên miền Bắc mùa xuân để ca ngợi con người và Tổ quốc trong công cuộc cải tạo và dựng xây. Chưa bao giờ hồn thơ ông lại vang vọng, tươi vui như thế.