đặt vấn đề dân tộc lên trên tất cả. Các nhà thơ cách mạng luôn đứng trong những sự kiện lớn của đất nước, với tư thế dân tộc, thời đại, giai cấp. Cái tôi lúc này mang một sinh khí mới rất mạnh mẽ và kiêu hãnh. Đây là giai đoạn các nhà thơ từ bỏ cái tôi cá nhân, để cái riêng tư hòa vào cái ta chung của dân tộc.
Bước sang thời kỳ đổi mới, cái tôi trữ tình lại chuyển sang cảm hứng lắng đọng và suy tư cá nhân. Theo thời gian, xã hội có những biến đổi và cái tôi cũng dần có những thay đổi, cái tôi trữ tình thoát khỏi những sự ràng buộc của xã hội để phát triển mạnh mẽ hơn. Như vậy chúng ta có thể kết luận cái tôi trữ tình ở những giai đoạn khác nhau thì đều có những biểu hiện khác nhau. Tuy có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh lịch sử nhưng cái tôi trữ tình cũng có một quy luật tồn tại và phát triển riêng của mình.
Đồng thời ở mỗi giai đoạn khác nhau, vai trò của cái tôi trữ tình đối với sự phát triển của văn học, xã hội cũng khác nhau. Vai trò của cái tôi trữ tình trong thơ Có thể nói cái tôi trữ tình là một thế giới đầy bí ẩn, hấp dẫn mà người nghiên cứu cần tìm hiểu, khám phá. Chúng ta không thể nào nắm bắt hết những cái hay, cái độc đáo của tác phẩm trữ tình nếu như không tìm hiểu cái tôi trữ tình ẩn chứa bên trong tác phẩm, vì nó là đối tượng trung tâm nhất của mọi sáng tạo nghệ thuật,có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ tất cả những suy nghĩ, tình cảm của tác giả. Cho dù tác giả có làm gì, sử dụng hình ảnh, âm thanh, chi tiết, nhạc điệu.cuối cũng cũng là nhằm mục đích xây dựng nên cái tôi trữ tình độc đáo cho tác phẩm của mình.
Cho nên khám phá tác phẩm không gì khác chính là khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm thông qua hình tượng cái tôi trữ tình. Cái tôi trữ tình có quan hệ vô cùng mật thiết với tác giả vì nó xuất phát từ chính cái tôi cá nhân của nhà thơ, là phiên bản cái tôi của nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật. Cái tôi trữ tình và cái tôi cá nhân của nhà thơ mặc dù không trùng khít nhau nhưng thống nhất với nhau, cho nên khám phá cái tôi trữ tình cũng chính là đi sâu khám phá khát vọng cá nhân của tác giả và những suy nghĩ, cảm nhận của tác giả trước cuộc sống. Từ đó chúng ta mới có thể khám phá hết các tầng ý nghĩa ẩn 13 chứa sâu bên trong tác phẩm.
Một cái tôi trữ tình độc đáo sẽ đóng vai trò như là lý do tồn tại cho một tác phẩm trữ tình trước bước đi của thời gian. Heghen cho rằng: “Cần phải khẳng định một chủ thể cụ thể - nhà thơ như là điểm trung tâm và nội dung đích thực của thơ trữ tình”. Có nghĩa là tìm hiểu cái tôi trữ tình là tìm hiểu một phương diện chính yếu nhất của thơ trữ tình. Cái tôi trữ tình có vai trò rất quan trọng, là tiền đề tạo nên phong cách của một tác giả.
Một cái tôi lớn sẽ tạo ra một phong cách thơ độc đáo. Ví dụ như cái tôi trữ tình của nhà thơ Chế Lan Viên, đó là một cái tôi đồ sộ, góp phần làm nên phong cách thơ độc đáo có một không hai. Ông là một nhà thơ vĩ đại của dân tộc ta, trong bất kỳ giai đoạn nào ông cũng là người đi tiên phong và đạt được những thành tựu lớn. Khi vừa mười bảy tuổi ông đã làm cả thi đàn sửng sốt trước cái tôi “kinh dị” của mình trong tập “Điêu tàn”; khi ông bốn mươi tuổi, mọi người lại tiếp tục ngỡ ngàng trước một cái tôi cao cả trong “Ánh sáng và phù sa”; cho đến khi ông giã từ cõi đời, độc giả lại một lần nữa phải xôn xao trước cái tôi vĩ đại trong hơn 500 bài thơ di cảo của ông.
Bấy nhiêu đó đủ để chúng ta thấy được cái tôi trữ tình có vai trò quan trọng như thế nào đối với thơ ca. Lưu Quang Vũ trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình đã khắc họa trong lòng người đọc một cái tôi trữ tình phong phú và đa dạng. Đó là cái tôi đầy màu sắc và cảm xúc, mọi vui buồn hay hạnh phúc khổ đau của ông đều có thể thấy được qua thơ ông. Ở mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc đời, cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ cũng có nhiều thay đổi, thể hiện chính xác con người ông trước những biến cố cuộc đời.
Như vậy việc tìm hiểu cái tôi trữ tình của một nhà thơ là một việc làm giàu ý nghĩa, không chỉ giúp chúng ta khám phá con người tác giả mà còn là cơ sở để khẳng định sự thành công của thơ ca. DI CẢO VÀ DI CẢO THƠ CỦA LƯU QUANG VŨ 1. Di cảo văn học Sách “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên có định nghĩa về di cảo như sau: “di cảo là bản thảo tác phẩm của người chết để lại”. Đó là những trang viết còn đang dở dang chưa kịp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa 14 kịp xuất bản thì tác giả của nó qua đời.
Theo đó, di cảo văn học có thể hiểu là những tác phẩm văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch.của một tác giả nào đó chưa kịp xuất bản lúc còn sống. Còn di cảo thơ thì ở phạm vi hẹp hơn nữa, đó là những bài thơ mà sinh thời tác giả của nó vì một lý do nào đó đã không xuất bản hoặc không kịp xuất bản. Sau khi nhà văn qua đời, những tác phẩm đó mới đc xuất bản hoặc công bố thì sẽ được gọi là tác phẩm di cảo. Ở nước ta, do điều kiện lịch sử riêng có chiến tranh xâm lược kéo dài, do ngành xuất bản chậm phát triển và chịu nhiều ràng buộc cho nên nhiều tác giả nói chung và các nhà văn, nhà thơ nói riêng chưa có điều kiện xuất bản tác của mình.
Có thể kể đến một vài tác giả có khối lượng di cảo lớn như: Chế Lan Viên, Lưu Quang Vũ, Nguyên Hồng. Ngày nay, những tác phẩm di cảo có điều kiện tốt hơn để đến với người đọc, và người đọc cũng có cơ hội để tìm hiểu, khám phá một mảng văn học tuy cũ về mặt thời gian nhưng cũng vô cùng mới mẻ. Mặc dù tác giả và những tác phẩm di cảo không thể đồng hành cùng nhau, nhưng những tác phẩm này cũng có đời sống riêng, số phận riêng của nó, mà nhiều khi sinh thời nhà văn cũng không tiên lượng hết được. Thậm chí có những tác phẩm sau khi được xuất bản đã khiến bạn đọc ngỡ ngàng vì nội dung tư tưởng mới mẻ, độc đáo hơn người.
Chẳng hạn, tiêu biểu là di cảo thơ Chế Lan Viên, di cảo thơ Lưu Quang Vũ. Việc nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị của những tác phẩm di cảo không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn, toàn diện hơn về nhà văn, mà còn góp phần hoàn thiện nền văn học nước nhà. Đây là một việc làm có ý nghĩa rất lớn. Di cảo thơ của Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948, tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Vĩnh Phú, vùng quê nơi cha mẹ đi kháng chiến chống Pháp.
Quê gốc của ông ở Đà Nẵng. Năm 1955, ông theo cha mẹ về Hà Nội và bắt đầu đi học. Hầu như cuộc đời Lưu Quang Vũ sống và gắn bó với Hà Nội. Là con đầu lòng của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, Lưu Quang Vũ chịu ảnh hưởng tích cực của người cha tài hoa.
Năng khiếu hội họa và cốt cách của một thi sĩ đã sớm được bộc lộ ngay từ khi ông còn rất nhỏ tuổi. 15 Năm mười ba tuổi, cậu bé Vũ đã giành được giải thưởng của thành phố về cả văn và họa. Giai đoạn 1965 – 1970, Lưu Quang Vũ nhập ngũ và phục vụ trong quân chủng Phòng không – không quân. Những vần thơ đầu mang hơi thở tươi trẻ, tài hoa, giàu xúc cảm được cất lên trong những năm tháng này.
Ông nhanh chóng được biết đến với tư cách là một nhà thơ trẻ tài năng khi mới 20 tuổi qua phần thơ “Hương cây” in chung với Bằng Việt trong tập “Hương cây - Bếp lửa”. Năm 1970 – 1978, Lưu Quang Vũ xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh, làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải Phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa- nô, áp-phích,.Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục viết truyện, làm thơ trong khi gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống. Theo lời kể của mẹ ông, ở góc bàn nơi ông làm việc có một dòng chữ to: Làm việc, làm việc để chiến thắng thời gian và bóng tối. Phần lớn những bài thơ sáng tác trong thời gian này đều buồn và trĩu nặng suy tư.
Có những tin đồn nói ông làm thơ bất mãn, hoài nghi chế độ, điều này đã được ông phủ nhận và giải thích rằng tâm trạng mình buồn thì không thể làm thơ vui được. Thơ của ông được nhiều bạn bè khen ngợi, nhưng khi gửi đăng thì luôn bị từ chối, có lẽ vì nét buồn trong thơ ông chưa thực sự phù hợp với thời cuộc, khi mà đất nước đang cần kiểu thơ ca hăng hái lên đường. Tuy vậy Lưu Quang Vũ vẫn say mê làm thơ, ông viết thơ và giữ cho riêng mình. Đây chính là lý do khiến cho phần di cảo thơ của ông trở nên rất đồ sộ mà mãi sau này chúng ta mới có dịp biết đến.
Cũng trong thời gian này, cuộc đời Lưu Quang Vũ được đánh dấu bởi một sự kiện quan trọng, đó là kết hôn với Xuân Quỳnh, một nữ sĩ tài hoa với hồn thơ mãnh liệt và tình yêu mãnh liệt. Ông không chỉ có được một người bạn đời mà còn có được một người bạn văn, cùng nhau vượt qua những năm tháng gian khổ, lận đận. Chính sức mạnh của tình yêu và sự hi sinh, lo lắng chu toàn của Xuân Quỳnh đã giúp ông vượt qua mọi khó khăn, đồng thời chuyên tâm cho sự nghiệp sáng tác của mình. Đến năm 1979, sự nghiệp viết kịch của Lưu Quang Vũ bắt đầu sôi động, vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” của ông, được sự gợi ý và giúp đỡ của đạo 16 diễn Phạm Thị Thành, đã ra mắt công chúng và được đánh giá cao.
Cuốn “Diễn viên và sân khấu” của ông cũng được ra đời.