Chương 1: Tổng quan về quản lý thu NSNN và Dự án Hiện đại hoá thu, nộp NSNN. Chương 2: Thực trạng công tác triển khai Dự án Hiện đại hoá thu, nộp NSNN trên địa bàn quận Cầu Giấy giai đoạn 2010-2012 Chương 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác triển khai Dự án Hiện đại hoá thu, nộp NSNN trên địa bàn quận Cầu Giấy. 6 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THU NSNN và DỰ ÁN HIỆN ĐẠI HOÁ THU, NỘP NSNN. Tổng quan về quản lý thu NSNN 1.
Khái niệm, đặc điểm và nội dung thu NSNN * Khái niệm: Thu NSNN là việc Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nƣớc.84] * Thu NSNN có đặc điểm riêng có của nó: Một là, thu NSNN dƣới bất kỳ xã hội nào cũng đều gắn liền với quyền lực chính trị và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. Nói một cách cụ thể, quyền lực của nhà nƣớc và các chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, nội dung và cơ cấu thu của NSNN. Hai là, các hoạt động thu NSNN đƣợc tiến hành trên cơ sở những luật định nhƣ luật NSNN, các luật thuế, các chế độ, chính sách do Nhà nƣớc ban hành. Các hoạt động thu NSNN bắt buộc phải dựa trên cơ sở pháp luật vì thu NSNN có phạm vi rộng, tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và có liên quan tới lợi ích của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế.
Thực chất của thu NSNN là lấy về cho Nhà nƣớc một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Do đó, các tổ chức, cá nhân có thu nhập đều là đối tƣợng của hoạt động thu NSNN. Ba là, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên nguồn thu NSNN là từ giá trị sản phẩm thặng dƣ của xã hội và đƣợc hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến. Thu NSNN gồm nhiều khoản thu với nhiều hình thức khác nhau và có tính chất khác nhau nhƣ: tự nguyện – bắt buộc; ngang giá – không ngang giá; có đối khoản – không có đối khoản trực tiếp; kinh tế - phi kinh tế.
7 z Bốn là, thu NSNN gắn chặt với quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhau nhƣ giá cả, thu nhập, lãi suất,. Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN. Kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị khác là tiền đề quan trọng đối với NSNN. Ngƣợc lại, chính sách thu NSNN khi áp dụng vào thực tế sẽ trở thành nhân tố quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế cũng nhƣ sự vận động của các phạm trù giá trị khác.
* Thu NSNN bao gồm: - Thuế , lệ phí, phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nƣớc nhƣ: + Thu nhập từ vốn góp của Nhà nƣớc vào các cơ sở kinh tế; + Tiền thu hồi vốn của Nhà nƣớc tại các cơ sở kinh tế; + Thu hồi tiền cho vay của Nhà nƣớc (cả gốc lẫn lãi). - Thu từ các hoạt động sự nghiệp. - Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu Nhà nƣớc.
- Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nƣớc, các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, từ đóng góp tự nguyên của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc. - Thu khác: nhƣ thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản,… [8, tr. Tổ chức thu và quản lý thu NSNN ở Việt Nam Hiểu một cách đầy đủ, tổ chức thu NSNN bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc lập dự toán thu, chấp hành dự toán thu và quyết toán thu NSNN, tất cả đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng đƣợc xác định cho từng năm. Ở nƣớc ta, năm ngân sách trùng với năm dƣơng lịch; thời điểm bắt đầu là ngày mồng 1 tháng 1 và thời điểm kết thúc là ngày 31 tháng 12 hàng năm.
8 z Khâu lập dự toán thu NSNN đƣợc thực hiện trƣớc khi năm ngân sách bắt đầu (lập dự toán từ cơ sở tháng 6, Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ trong tháng 10 và Quốc hội quyết định dự toán thu ngân sách trƣớc 15 tháng 11 năm trƣớc). Khâu chấp hành dự toán thu trùng với năm ngân sách. Sau khi năm ngân sách kết thúc phải đánh giá tình hình chấp hành ngân sách và đó là khâu quyết toán thu NSNN. Quản lý thu NSNN đƣợc quy định bằng pháp luật và theo dự toán.
Ở Việt Nam, quản lý thu NSNN bằng Hiến pháp năm 1992 (sửa đối năm 2001) và Luật NSNN năm 1996 (sửa đổi năm 2002). Luật NSNN hiện nay là đạo luật cơ bản của Việt Nam điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực NSNN nói chung và quản lý thu NSNN nói riêng. Hệ thống các cơ quan thu NSNN hiện nay ở nƣớc ta là cơ quan Thuế (thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với các khoản thu nội địa), cơ quan Hải quan (thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với các khoản thu liên quan đến hàng hoá dịch vụ xuất, nhập khẩu) và các cơ quan khác đƣợc Chính phủ, Bộ Tài chính giao nhiệm vụ tổ chức thu NSNN (gọi chung là cơ quan thu). Các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với KBNN tổ chức thu và quản lý các khoản thu NSNN, thƣờng xuyên kiểm tra, đôn đốc các đối tƣợng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN đầy đủ, kịp thời.
Về nguyên tắc, các khoản thu NSNN đƣợc nộp qua ngân hàng hoặc nộp trực tiếp tại KBNN và đƣợc hạch toán đầy đủ, kịp thời, chính xác vào tài khoản thu NSNN tại KBNN. Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế và các cơ quan có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm công tác thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật. Thực hiện cải cách hành chính thuế, cải cách thủ tục hải quan theo hƣớng đơn giản hoá, công khai, minh bạch các thủ tục thu nộp NSNN, mở rộng áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại vào quy trình thu, quản lý thu tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời nộp NSNN, cho doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ thu, nộp NSNN. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý thu NSNN ở Việt Nam.
Một là, cơ chế chính sách chung về quản lý thu NSNN: 9 z Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình thu NSNN. Mọi hoạt động nghiệp vụ cụ thể trong lĩnh vực thu NSNN đều đƣợc tiến hành dựa trên căn cứ pháp lý là các văn bản, chế độ quản lý thu NSNN do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành. Vì vậy, cơ chế, chính sách quản lý thu NSNN có ảnh hƣởng cực kỳ quan trọng đến hoạt động quản lý thu NSNN. Có thể thấy rõ điều này qua một số nội dung cụ thể sau: - Hệ thống chứng từ thu NSNN: Một hệ thống chứng từ thu NSNN hoàn thiện sẽ giúp đối tƣợng nộp kê khai dễ dàng, đầy đủ và chính xác, nhờ đó vừa giảm đƣợc thời gian tiêu hao cho việc thu nộp, góp phần tập trung nhanh các khoản thu vào NSNN, đồng thời đảm bảo cung cấp thông tin sát thực, có hiệu quả cho các cơ quan quản lý.
- Phƣơng thức và quy trình thu NSNN: Phƣơng thức thu đa dạng sẽ góp phần tăng tính chủ động cho đối tƣợng nộp. Nếu quy trình thu đơn giản, hợp lý sẽ giúp tiết kiệm đƣợc thời gian, chi phí dành cho việc thực hiện mỗi khoản thu đối với cả ngƣời nộp và cơ quan thu. Mạng lƣới các điểm thu ảnh hƣởng đến việc thực hiện công tác thu. - Phân định nhiệm vụ giữa các cơ quan trong công tác quản lý thu NSNN: Công tác quản lý thu NSNN có đặc điểm là liên quan đến nhiều cơ quan, ban ngành nên rất cần có sự phân định rõ nhiệm vụ giữa các cơ quan nhằm tránh sự chồng chéo, ỷ lại, thiếu trách nhiệm trong quản lý thu NSNN.
Việc phân định trách nhiệm này phải đƣợc tôn trọng và thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật. - Phân cấp trong quản lý thu NSNN: Trong điều kiện hiện nay, phân cấp quản lý thu NSNN là việc chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền từ cơ quan quản lý Nhà nƣớc cấp trên xuống cơ quan Nhà nƣớc cấp dƣới nhằm đạt đƣợc mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý. Phân cấp quản lý thu NSNN một cách hợp lý, rõ ràng sẽ tạo sự chủ động cho các cấp ngân sách trong việc tổ chức và tận thu đƣợc các khoản thu cho NSNN. Hai là, trình độ cán bộ và cơ cấu bộ máy của cơ quan thu Trình độ cán bộ có tác động lớn đến hiệu quả công việc.
Trong bộ máy quản 10 z lý, con ngƣời là nhân tố trung tâm, có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin để ra các quyết định quản lý phù hợp. Trình độ cán bộ ảnh hƣởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng. Công tác quản lý thu NSNN là một công việc khó khăn, nhạy cảm, phức tạp vì có liên quan đến lợi ích của nhiều đối tƣợng. Do đó, để có thể thực hiện tốt công việc này đòi hỏi một đội ngũ cán bộ thu giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ mới và đặc biệt là phải có tinh thần trách nhiệm và tƣ cách đạo đức tốt.
Ngoài ra, đội ngũ cán bộ làm công tác thu còn là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc tuyên truyền, hƣớng dẫn chế độ chính sách pháp luật của Nhà nƣớc đến từng đối tƣợng nộp thuế và các tầng lớp dân cƣ. Bên cạnh đó, một bộ máy làm việc đƣợc tổ chức hợp lý, khoa học sẽ phát huy tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ, thúc đẩy chu trình thu NSNN đi vào hoạt động trôi chảy.