CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VE CÔNG TRÌNH CANG Bì VIỆT NAM 1.1, KHÁI NIỆM VE CẢNG BIEN 1. Giới thiệu Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Nam A bên bờ Thái Bình Dương có. vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế rộng lớn, với trên 1 triệu km’, gap 3 lần so với diện tích đất liền. Bờ biển VN trải dài 3.260 km, gồm các tuyến hàng hải quốc tế xuyên Á - Âu và khu vực.
Doe theo bờ biển có rất nhiều vị trí với điều kiện tự nhiên lý tưởng để xây dựng cảng biễn. Ngành kinh tế cảng bién đồng vai trd thật sự quan trọng déi với sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội của đắt nước. Nghị quyết số 03 NQ/ TW, ngày 06/05/1993, của Bộ Chính Trị khoá VII, đã chỉ rõ: “Van tải biển cần phát triển đồng bộ với cảng, đội tau, dich vụ hàng hải, công nghiệp sửa chữa đóng tàu. Nâng cấp và xây dựng mới.
sang biển 16 chức lại một cách hợp lý” 1. Định nghĩa cảng biến Cảng biển được hiểu là nơi ra vào, neo đậu của tiu bién, là nơi phục vụ tu bè và hàng hoá, là đầu mối giao thông quan trọng của một nước. (Theo từ điển Hàng hai) ee ở` lở oO ‘| Hình 1. Kênh din vio cảng ; 3, Khu nước của cảng ; 4.
Khu nước trước bến; 5, Bến nhô 6. Bến liền bờ ; 7. Kho bãi 8, Đường sắt của cảng ;9.Ga đường sắt 10: Đập chin sóng (ke), Con theo L. Kuzma: ‘ang biển là một đầu mỗi vận tải liên hợp ma ở đó có nhiễu phương tiện vận tải khác nhau tiếp cận vận tải, đó là tau biển, tàu sông, xe lửa, ô tô, máy bay và đường ống.
Ở khu vực cảng xuất hiện việc xếp đỡ hang hoá hoặc sự lên xuống tầu của khách hàng giữa các tau biển và các phương tiện vận tải còn lại — điều này có nghĩa là xuất hiện sự thay đổi phương tiện vận tải trong vận chuyển hàng hoá và người” [5] Đối với quan điểm hiện đại, cảng không phải là điểm cuối hoặc kết thúc của quá trình vận tải mà là điểm luân chuyển hang hoá và khách hàng. Nói cách khác, cảng như một mắt xích trong dây chuyền vận tải. Ở khái niệm này cảng còn mang tính rộng hơn: nhiệm vụ kích thích lợi ích của các bên của cảng không bi gi i hạn bởi thời gian và không gian. Mục đích của một khu vực, một quốc gia hoặc nhiều quốc gia để đảm bảo cải thiện chất lượng của.
Cảng biển thiết lập một thảnh phần của hệ thống vận tải đất nước. và quốc tế, Hoạt động kinh tế của c: 1g là hoạt động. phúc tap và liên hợp có quan hộ đến các giai đoạn còn lại của mắt xích vận tải 1.3, Các bộ phận cũa cảng Bắt kỳ một cảng nào cũng gdm có 2 bộ phận chính: khu đất và khu nước: KHU Nước ý LIII{†frn i À KHU ĐẤT Hình 1. Sơ đồ các bộ phận của căng, 4+ Khu nước gồm: tuyển kênh dẫn thu vào cảng và các ving nước để cho tân quay trở, neo đậu tạm thời, truyền tải và neo đậu trước bến ip hàng hoá giữa tàu với bờ.
Khu nước của cảng được giới hạn bởi tuyển để chin sóng (nếu có [4] + Khu đắt là nơi bố trí kho, bãi, hệ thống giao thông, thiết bị xếp đỡ và các công trình phụ trợ khác như nhà làm việc, hệ thống cấp thoát nước. Ranh giới giữa khu đất và khu nước là tuyển bến nơi để tau neo cập sát vào khu đất cho quá trinh bốc, xếp hang hóa an toàn và (huận tiện. Nếu gọi S là điện tích khu nước và T và diện tích khu đất, thường có tỷ số T/S = 0,5 + 2. Déi với các cảng bắc container thường TIS lớn.
Lựa chọn S và T chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện địa hình cụ thé của mỗi cảng. Chọn T và S chính xác còn phải xétđến tổng chiều dai tuyển bến L, tổng trọng tải các tàu đến và rời bổn trong một năm 1, tổng lượng hàng thông qua cảng trong một năm Q va tổng chiều dài hệ thống đường sắt có trong căng. CHỨC NĂNG, NHIEM VỤ VÀ QUYEN HAN CUA CANG BIEN 1. Chức năng ~ Phục vụ tau biển: cảng biển là nơi ra và neo đậu của tầu, là nơi cung cấp các dich vụ đưa đón tàu ra vào, lai dit, cung ứng dẫu, nước ngọt, vệ sinh, sửa chữa tàu, ~ Phục vụ hang hoá: cảng phải làm nhiệm vụ xếp dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, phân phối hing hoá xuấ Cảng còn là nơi tiến hành các thủ tục xuất nhập khẩu, là nơi bắt đầu, tiếp tục và kết thúc quá trình vận tải 1.
Nhiệm vụ và quy hạn của cảng biển ~_ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát trién của cảng biển trong phạm vi trách nhiệm. ~ Phối hợp hoạt động của các tổ chức, cơ quan thực hiện chức năng quản ý nha nước chuyên ngành tại cảng biển. Kiểm tra, giám sắt viên thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn cảng và luỗng ra vào cảng. Phối hợp với các cơ quan thực hiện các hoạt động tìm kiểm, cứu nạn va xử lý sự cổ ô nhiễm môi trường Cấp giấy phép cho tàu ra vào cảng và thực hiện các yêu cầu về bắt giữ và tạm giữ hing hải.
Yêu cầu các cá nhân, cơ quan hữu quan cung cấp các thông tin, tải liệu 48 thực hiện chức năng quản lý nhà nước của cảng. Trang thiết bị cảng, Bến tàu: là nơi đậu của tàu có cấu trúc “Ke” hoặc cầu tàu (Quay hoặc. Chiều đài và độ sâu của bến tàu tủy thuộc vào số lượng và kích cỡ của các con tiu ra vào. Trung bình một con tàu chở 20,000 ~ 30,000 DWT doi hoi bến đậu có chiều dài 250m ~ 300m và độ sâu 8m ~ 10m.
Thềm bến (Apron): là khu vực bề mặt “Ke” hoặc cầu tàu (Quay surface) sắt liễn với bến tàu, có chiều rộng từ 20 m =30 m, phủ hợp với chiêu ngang của chân để giàn cấu khung hoặc loại công cụ bốc đỡ khác. Thém bến được xây dựng chắc chắn, trên mặt thêm có trải nhựa hoặc láng xi mang. Thông thường, 2 giàn câu khung được bố trí hoạt động dọc theo bến tàu và có năng lực bốc dỡ đạt 40 - 50 chiếc container / giờ. Bãi chứa container (Container yard): là nơi tiếp nhận và lưu chứa container.
Bai chứa container (CY) có thể phân thành một số khu vực: khu vực bố trí container chuẩn bị bốc xuống tàu, khu vực dành tiếp nhận container từ tau lên ba, khu vực chứa container rồng. Tay theo số lượng container đi đến, lưu chứa mà điện tích bãi chứa có quy mô lớn. “Thông thường, tương ứng với chiều dài 300 m Ke, diện tích bãi chứa chiếm khoảng 105,000 m’. - Tram container làm hàng lẻ (Container Freight Station): là nơi tiến hành nghiệp vụ chuyên chớ hàng lẻ, nó có chức năng: + Tiếp nhận các lô hàng lẻ của chủ hàng tử nội địa, lưu kho, phân loại và giao trả hàng cho các chủ hàng lẻ + Tip nhận các container hàng lẻ, rút hing ra, phân loại, tái đồng hing vào container và gửi tiếp hàng đến đích.
Trạm làm hàng lẻ container (CFS) thường được bố trí bên ngoài, sát bãi chứa container, tai nơi cao ráo và có kho chứa tạm có mái che, thuận lợi cho việc kim hàng, đóng hàng vào và rút hàng ra khỏi container, dưới sự kiểm soát của hải quan. ~ Cảng thông quan nội địa (Inland Clearance Depot ~ ICD): là khu vực có thé ở trong nội địa, được dùng làm nơi chứa, xếp đỡ, giao nhận hàng, hoá, container, làm thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập khẩu. ICD có cơ ‘quan hải quan và hoạt động như một cảng nên người ta gọi ICD là cảng can hay cảng khô (Dry Por). ~ _ Công cụ phục vụ vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá gồm: câu trục tự hành, cần cau dan bánh lốp (Rubber tyred Gantry Crane), cần cấu giàn (Ship shore Gantry Crane), cần câu chân dé, xe nâng hang bánh lốp, xe khung.
nắng bánh lốp, xe xếp ting (Stacker), xe nâng chụp trên (Toplift stuck), máy bơm hút hàng rời hàng long, băng chuyển, 6 tô, đầu kéo, Chassis, Contain aller, 1. PHAN LOẠI CẢNG BIEN 1. Mục đích phân loại cảng bién Phan loại cảng là một công cụ quản lý Nhà nước nhằm dat được mục tiêu chính sách trong lĩnh vực cảng. Mục tiêu chính sách trong lĩnh vực cảng là nhằm hỗ trợ các mục tiêu phát triển của đất nước như đẩy mạnh tăng trưởng.
kinh tế-xã hội thông qua việc triển khai cơ sở vật chất thiết bị cảng hiệu quả. Tuy nhiên, do nguồn vốn ngân sách dành cho phát triển cảng có hạn, cần phải quan lý cảng phủ hợp và hiệu quả nhằm tối wu hóa hiệu quả đầu tư cảng. "Phân bỗ đầu tư cảng pha hop Nhằm tăng cường phát triển cảng để có thể hỗ trợ các mục tiêu trọng yếu của đất nước, cần đề xuất phân loại cảng trên cơ sở xem xét các tiêu chí phân bổ các nguồn lực quốc gia có hạn trong phát triển cảng. Cảng hoặc dự án cảng có tầm ảnh hưởng lớn hơn tới kinh tế-xã hội sẽ được ưu tiên ngân sách cao hơn.
Kinh phí đầu tư phát triển cảng sẽ chủ yếu có nguồn từ ngân sách nhà nước. Tuy vậy, trong một số trường hợp, có thé sử dụng nguồn vốn tir thành. phần ngoài quốc doanh trong hoạt động phát triển ưu tiên đối với cảng. sao, trong trường hợp nảy, cần quản lý các hoạt động của thành phần ngoài quốc doanh nhằm đảm bảo các mục tiêu của chính sách quốc gia.
Do đó, công tác phân loại cảng cần phải phủ hợp với chính sách quốc gia và các tiêu chi nhằm đảm bảo đầu tư thỏa đáng. Tang cường quản lý và khai thác cảng hiệu quả Các bến cảng Việt Nam do rất nhiều chủ thé khác nhau quản lý ma chưa có một hệ thống quản lý cảng toàn diện. Trong những năm gần đây, lượng hàng thông qua các cảng chính đã tăng lên nhanh chóng nên yêu cầu phối hợp giữa các cảng liễn kể cũng tăng lên, đặc biệt là khu vực phía Nam-Tại đây, 2 hoặc nhiều hơn các b cảng có vị trí rất sit nhau. Do vậy, cần đưa các bến cảng, khu vực phát triển tiềm năng và những cơ sở vật chất thiết bị của tư nhân vào khuôn khổ quản lý của một cơ quan/chủ.
thể quản lý toàn diện vùng nước, vùng đất cảng. Việc phát triển luồng hàng hải và quản lý hành hải cũng như đường bộ, đường sắt trong vùng hip dẫn. đều thuộc phạm vi thắm quyền của cơ quan nảy. Để thực hiện quản lý cảng 10 hiệu quả, cần thành lập cơ quan quản lý cảng (Port Management Body) cho mỗi cảng biển chính.