Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quy chế trả lƣơng trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng quy chế trả lƣơng tại Công ty Sen vòi Viglacera. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quy chế trả lƣơng tại Công ty Sen vòi Viglacera. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUY CHẾ TRẢ LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tiền lương Hiện nay, TL đƣợc hiểu theo nhiều cách và có nhiều quan điểm khác nhau. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại công ƣớc số 95, công ƣớc về Bảo vệ tiền lƣơng, 1949, tại Điều 1 có đƣa ra: “Tiền lƣơng” là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và đƣợc ấn định bằng thoả thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do ngƣời sử dụng lao động phải trả cho ngƣời lao động theo một hợp đồng thuê mƣớn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm”. [1] Theo quy định tại Điều 90 Bộ Luật lao động năm 2019 hiện hành, thì: “Tiền lƣơng là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác. Mức lƣơng của NLĐ không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định”. Quy định của Bộ luật Lao động nghiêng về phía thị trƣờng theo nguyên tắc thỏa thuận dựa trên năng lực của các bên tham gia thị trƣờng lao động, tiền lƣơng phải cao hơn mức sàn do Nhà nƣớc quy định. [2] Trong Giáo trình Nguyên lý tiền lƣơng do TS Đỗ Thị Tƣơi và TS Đoàn Thị Yến đồng chủ biên của Trƣờng Đại học Lao động Xã hội xu ất bản nă m 2 020 có đƣa ra khái niệm tiền lƣơng nhƣ sau: “Tiền lƣơng là giá cả 10 sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động (hoặc đại diện của chủ sử dụng lao động) và ngƣời lao động, là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi ngƣời lao động thực hiện một công việc nhất định và phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật”.
Nhƣ vậy, tiền lƣơng ở đây đƣợc coi là giá cả sức lao động và đƣợc phân phối theo năng lực, kết quả, hiệu quả lao động và đƣợc trả bằng tiền. Nhƣ vậy, theo tác giả, tiền lƣơng đƣợc hiểu là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất, chất lƣợng, hiệu quả công việc và điều kiện lao động, đƣợc xác định theo sự thỏa thuận hợp pháp của hai bên, bao gồm mức lƣơng, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác và tiền lƣơng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Nhà nƣớc quy định. Quy định này đã hƣớng tiền lƣơng theo nguyên tắc thị trƣờng đƣợc quyết định do thỏa thuận của cả hai bên. Liên quan đến tiền lương ở Việt nam còn có một số khái niệm sau: - Tiền lương cơ bản: Là TL đƣợc chính thức ghi trong các hợp đồng lao động, các quyết định về lƣơng hay qua các thỏa thuận chính thức.
Tiền lƣơng cơ bản phản ánh giá trị của sức lao động và tầm quan trọng của công việc mà NLĐ đảm nhận. Trong khu vực Nhà nƣớc Tiền lƣơng cơ bản đƣợc xác định nhƣ sau: Tiền lƣơng cơ bản = Tiền lƣơng cơ sở * Hệ số lƣơng Tiền lương cơ sở (tiền lƣơng cơ sở hoặc tiền lƣơng tối thiểu vùng): Là TL trả cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện bình thƣờng của xã hội. Tiền lƣơng tối thiểu đƣợc pháp luật bảo vệ nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức tối thiểu cần thiết của NLĐ tƣơng ứng với giá tƣ liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình. Tiền lƣơng tối thiểu là cơ sở là nền tảng để xác định mức lƣơng trả cho các loại lao động khác.
Nó còn là công cụ để nhà 11 nƣớc quản lý và kiểm tra việc trao đổi mua bán sức lao động, điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế - Phụ cấp lương: Phụ cấp lƣơng là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chƣa đƣợc tính đến hoặc tính chƣa đầy đủ trong mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh của thang lƣơng, bảng lƣơng lƣơng. Ngoài ra, hai khái niệm thƣờng đi kèm với tiền lƣơng là tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế. - Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ khi ngƣời lao động đã thực hiện công việc đƣợc giao và theo mức độ đóng góp của họ [8, Tr. - Tiền lương thực tế: là số lƣợng hàng hóa, dịch vụ NLĐ có thể mua đƣợc bằng TL danh nghĩa sau khi đã đóng các khoản thuế, phí theo quy định của pháp luật và tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động [8, Tr.
Mối quan hệ giữa TL danh nghĩa và TL thực tế đƣợc thể hiện qua công thức: (trong đó ILTT là chỉ số TL thực tế; ILDN là chỉ số TL danh nghĩa; IG là chỉ số giá cả) [8, Tr. Nhƣ vậy tiền lƣơng thực tế không những phụ thuộc vào tiền lƣơng danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua. Tóm lại, Tiền lƣơng biểu hiện ở hai phƣơng diện: kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế: Tiền lƣơng là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo giá trị sức lao động đã hao phí, trên cơ sở thỏa thuận theo hợp đồng lao động.
Về mặt xã hội: Tiền lƣơng là số tiền đảm bảo cho ngƣời lao động có thể mua đƣợc những tƣ liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động 12 của bản thân và dành một phần để nuôi gia đình cũng nhƣ bảo hiểm lúc tuổi già. Khái niệm quy chế trả lương Ở bất kỳ tổ chức, DN nào có một loạt các quy chế riêng quy định nguyên tắc vận hành hoạt động đối với các thành viên nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động hƣớng tới mục tiêu cần đạt đƣợc. Quy chế trả lƣơng là nằm trong bộ quy chế của mỗi tổ chức, doanh nghiệp bảo đảm sự thống nhất trong phân phối TL và thu nhập nhằm đạt đƣợc hiệu quả công việc. Quy chế là văn bản nêu các điều, khoản quy định thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp để các thành viên trong tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thi hành, nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động, tinh thần kỷ luật, hiệu quả công việc và mục tiêu cần đạt tới.
Các tổ chức, đơn vị đều có những quy định về nguyên tắc chung hoặc các vấn đề cụ thể để làm căn cứ điều hành vận động các bộ phận và thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng quy chế. Quy chế của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau thì chủ thể xây dựng quy chế, đối tƣợng triển khai thực hiện sẽ khác nhau. Tuy nhiên, dù quy chế đƣợc cơ quan, đơn vị nào xây dựng, thì vẫn phải nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hành động và quyền dân chủ của các thành viên tham gia. Quy chế trả lƣơng còn đƣợc gọi bằng tên gọi khác là quy chế phân phối tiền lƣơng - thu nhập do chính cơ quan, doanh nghiệp tự tổ chức xây dựng 13 cho đơn vị mình theo từng chƣơng, mục, các điều khoản, điểm, tiết tuân theo quy định của pháp luật hiện hành và chỉ có hiệu lực trong phạm vi quản lý.
Một QCTL đƣợc coi là hiệu quả khi đảm bảo đƣợc các tiêu chí sau: - Tuân thủ quy định của Nhà nƣớc về công tác tiền lƣơng, thể hiện đầy đủ các nội dung cơ bản của QCTL. - Quy chế trả lƣơng phải xác định thống nhất, khoa học, hợp lý phƣơng pháp xác định tiền lƣơng, cách thức chi trả lƣơng gắn với đặc thù của đơn vị, tính chất công việc theo vị trí chức danh công việc, gắn với kết quả kinh doanh của đơn vị và hiệu quả công việc của NLĐ. - Các mức lƣơng và phƣơng pháp phân phối tiền lƣơng trong quy chế trả lƣơng phải thỏa đáng, mức tiền lƣơng, thu nhập phải đủ lớn để thu hút, duy trì đƣợc lao động có chất lƣợng cao, khuyến khích họ cống hiến sức lực cho mục tiêu chung của tổ chức. Đáp ứng yêu cầu đổi mới cách thức trả lƣơng, đảm bảo thu hút và sử dụng đƣợc nguồn nhân lực có trình độ, năng lực.
- Phƣơng pháp phân phối tiền lƣơng, thƣởng phải công bằng, hiệu quả tạo động lực, khuyến khích NLĐ trong doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả công việc để đóng góp vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Trả lƣơng có sự cạnh tranh trên thị trƣờng và trở thành công cụ hữu hiệu trong công tác quản trị nguồn nhân lực, đáp ứng đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp. Trong phạm vi luận văn, quy chế trả lƣơng đƣợc hiểu một cách khái quát nhƣ sau: “Quy chế trả lƣơng là bản quy định các nguyên tắc, cách thức trả lƣơng cho ngƣời lao động trên cơ sở quy định của pháp luật lao động và phù hợp với tính chất đặc thù của lao động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”. Nội dung cơ bản quy chế trả lƣơng trong doanh nghiệp 1.
Căn cứ xây dựng quy chế trả lương 1.1 Các quy định của Nhà nước Theo quy định của pháp luật thì DN thuộc các thành phần kinh tế phải căn cứ trên quy định Nhà nƣớc để xây dựng QCTL của đơn vị mình. Hệ thống pháp luật đó bao gồm: Bộ Luật lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật việc làm, Luật ATVSLĐ, Nghị định, các văn bản hƣớng dẫn, Thông tƣ của các Bộ cơ quan ngang Bộ nhƣ Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính, Bộ chủ quản (Giáo dục đào tạo, Công thƣơng, Quốc phòng…) quy định chung cho các loại hình hình DN hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Các DN còn phải căn cứ trên các quy định đặc thù áp dụng riêng đối với DNNN gồm: - Các Nghị định, Thông tƣ áp dụng đối với loại hình DN Nhà nƣớc là Công ty TNHH một thành viên do Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ. - Các Nghị định, Thông tƣ áp dụng đối với loại hình DN Nhà nƣớc là Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nƣớc.