Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu BHXH Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Cơ sở uận về quản thu ảo hiểm hội 1. Khái niệm v ản h t v a.
hái niệm BHXH Để tồn tại, phát triển và thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày trong cuộc sống con người phải lao động và cần phải có sức khỏe tốt. Tuy nhiên không phải trong cả quãng đời của mình ai cũng luôn khỏe mạnh, lao động tốt. Họ có thể gặp những rủi ro bất ngờ về sức khỏe như ốm đau, tai nạn lao động, mất khả năng lao động khi về già… Khi gặp phải những rủi ro đó thu nhập của họ bị giảm hoặc mất ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của chính bản thân họ và cả gia đình. hi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, việc thuê mướn lao động đã diễn ra phổ biến làm cho mối quan hệ kinh tế giữa người lao động và người chủ lao động đa dạng hơn và cũng phức tạp hơn rất nhiều.
Một mặt thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, một mặt làm kìm hãm nền sản xuất. Người lao động ngoài khoản thu nhập từ lao động làm công ăn lương thì họ không còn bất kỳ một khoản thu nhập nào khác. cuộc sống của họ chỉ phụ thuộc vào tiền công nhận được. Chính vì vậy khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản… họ gặp rất nhiều khó khăn, không thể trang trải được trong khi họ không nhận được tiền công, tiền lương vào những ngày nghỉ ốm đó.
hi người lao động gặp phải các rủi ro thì sẽ được hỗ trợ bởi quỹ tiền tệ đó. Vì vậy, mà thu nhập của người lao động ổn định hơn, cuộc sống của bản thân và gia đình họ được đảm bảo. Người sử dụng lao động cũng nhận thấy được lợi ích mà quỹ tiền tệ đó mang lại như ổn định sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khỏe và đời sống cho người lao động và gia đình họ từ đó làm người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn, yên tâm làm việc và lao động tích cực hơn… (Nguyễn Huy Ban (2007) 5 Theo từ điển Bách khoa "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho N Đ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao dộng và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội". Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến ngừng việc hoặc giảm sút thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
hái niệm này đã phản ánh sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và xã hội. - Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ ao động Thương binh và Xã hội: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với N Đ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội (Quốc hội, 2002. Theo luật BHXH số 58 năm 2014 đưa ra khái nhiệm BHXH như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay th hoặ ù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc m t thu nhập do m đau, thai sản, tai nạn ao động, bệnh ngh nghiệp, h t tuổi ao động hoặc ch t, trên ơ s đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Nhu vạy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoạc bù đắp mọt phần thu nhạp cho nguời lao đọng khi họ gạp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả nang lao đọng, mất viẹc làm, chết. BHXH gắn liền với quá 6 trình tạo lạp mọt quỹ tiền tẹ tạp trung đuợc hình thành bởi các ben tham gia BHXH đóng góp và viẹc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống co bản cho bản than N Đ và những nguời ruọt thịt của N Đ trực tiếp phải nuoi duỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã họi.
BHXH bao gồm 2 loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà N Đ và người sử dụng lao động phải tham gia. - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Bản chất của BHXH Bản chất của BHXH được thể hiện ở các điểm sau: - Trong bất kỳ xã hội nào mà ở đó có sự thuê mướn lao động thì có BHXH. BHXH là nhu cầu khách quan, mang tính đa dạng phức tạp của xã hội.
hi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, mối quan hệ chủ thợ càng phát triển thì BHXH càng phong phú, đa dạng và hoàn thiện. Có thể nói kinh tế là nền tảng để BHXH phát triển, BHXH thể hiện trạng thái kinh tế của một nước. - Cơ sở phát sinh BHXH là quan hệ lao động thể hiện thông qua mối quan hệ ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. + Bên tham gia BHXH: người lao động và người sử dụng lao động.
+ Bên BHXH: cơ quan BHXH do Nhà nước lập ra và bảo hộ. + Bên hưởng BHXH: người lao động và gia đình họ khi người lao động không may gặp phải những rủi ro và có đủ điều kiện để được hưởng theo quy định của pháp luật. - Điều kiện được hưởng BHXH là người lao động gặp những rủi ro, những biến cố mang tính chất ngẫu nhiên, trái với muốn chủ quan của 7 con người như ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động về nghỉ hưu. Những biến cố đó có thể xảy ra trong và ngoài quá trình lao động đã làm cho người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
- hi gặp những biến cố, phần thu nhập của người lao động sẽ bị mất hoặc bị giảm đi. Với sự hỗ trợ từ quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ các bên (người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước đã bù đắp hoặc thay thế phần nào phần thu nhập bị mất đó. Qua bản chất của BHXH ta có thể thấy mục tiêu xuyên suốt của BHXH chính là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị mất hoặc giảm thu nhập hàng tháng do mất việc làm, mất khả năng lao động bằng cách bù đắp cho người lao động những khoản thu nhập đó. Có BHXH thì điều kiện sống của người lao động và gia đình họ sẽ được đảm bảo và tốt hơn.
Theo quy định tại điều 3 của Luật BHXH (2006) , khái niệm BHXH được hiểu như sau: Bảo hiểm hội là sự bảo đảm thay th hoặ ù đắp một phần thu nhập của người ao động khi họ bị giảm hoặ m t thu nhập do m đau, thai sản, tai nạn ao động, bệnh ngh nghiệp, th t nghiệp, h t tuổi ao động hoặc ch t, trên ơ s đóng vào quỹ bảo hiểm hội. Vai trò ủa BHXH Đ i với NLĐ: BHXH góp phần ổn định tài chính cho người tham gia BHXH trước những tổn thất do rủi ro xảy ra. Trong quá trình lao động nếu N Đ ch ng may gặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn.làm họ bị gián đoạn công việc, và phải mất một khoản chi phí để tài trợ cho những tổn thất do rủi ro đó gây ra thì việc tham gia BHXH sẽ giúp họ trang trải những khoản chi phí nói tre n làm giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nha n, mỗi doanh nghiẹp và yen tam trong lao đọng sản xuất, góp phần na ng cao nang suất lao đọng. 8 Đ i với người sử ụng ao động: Việc tham gia BHXH của người sử dụng lao động giúp họ trang trải những khoản chi phí không mong muốn cho những điều khoản (trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
ghi trong hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động phải đảm bảo. Hay nó giúp chủ sử dụng lao động đảm bảo được sức kho và đời sống tối thiểu của người lao động trong những hoàn cảnh khó khăn. Từ đó nó làm cho N Đ yên tâm hơn, tin tưởng vào người chủ của mình hơn, tận tâm với công việc của mình hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động tạo thêm lợi nhuận cho người sử dụng lao động. Đ i với Nhà nướ và hội: - BHXH điều tiết các chính sách trong hệ thống ASXH: ASXH bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau góp phần ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, và ổn định xã hội.
hi BHXH phát triển thì khả năng tài trợ cho các thành viên trong xã hội trước các tổn thất do các rủi ro không mong muốn càng cao. Do vậy giảm bớt gánh nặng đối tượng và mức tài trợ cho các chính sách ASXH khác, làm giảm gánh nặng cho NSNN. Mặt khác BHXH có hai hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, do đó nó làm cho sự đảm bảo đời sống cho cộng đồng của chính sách ASXH được hoàn thiện hơn. - BHXH còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Vì rủi ro được bảo hiểm trong BHXH không phải lúc nào cũng xảy ra với bất kì ai, lại có tính gián đoạn về mặt thời gian do vậy việc chi trả BHXH cũng có tính gián đoạn.