Chương 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận về bộ máy tổ chức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ công lập theo cơ chế tự chủ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng bộ máy tổ chức quản lý của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo cơ chế tự chủ Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý theo cơ chế tự chủ của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến bộ máy quản lý và cán bộ quản lý của tổ chức hay doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có các tài liệu đề cập đến các nội dung liên quan đến các vấn đề hoàn thiện bộ máy quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung. Trong số đó, có thể kể đến các nghiên cứu: Trần Xuân Sầm (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định tiêu chuẩn cán bộ; thực trạng việc thực hiện tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị; xác định tiêu chuẩn cán bộ trong những năm tới và phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tiêu chuẩn xác định. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nội dung đề cập đến cơ sở lý luận của việc sử dụng tiêu chuẩn cán bộ trong công tác cán bộ; những kinh nghiệm xây dựng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng; những quan điểm, phương hướng chung trong việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ, trong đó có nội dung về “tiêu chuẩn hóa cán bộ”. Cuốn sách nêu bật lên được cán bộ, công chức là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguyễn Hữu Tri (2006), Kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả cho rằng, tổ chức có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người và xã hội, bởi vì nó tạo ra sự thống nhất và nhân sức mạnh của tập thể và mỗi người lên gấp bội.
Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, theo cách nói của Lênin, giai cấp vô sản không có vũ khí nào tốt hơn là "sự tổ chức". 4 Trần Đình Hoan (2009), Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chính trị quốc gia, Hà Nội., Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Cuốn sách khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, gần 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, là ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc.
Trong hơn 20 năm qua, công cuộc đổi mới đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện và cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển đất nước trong những năm tiếp theo. Có được những thắng lợi đó là nhờ đường lối chính trị đúng đắn, là do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là gốc của mọi công việc, muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém. Quan điểm này luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và thực hiện.
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở Việt Nam hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo ngày càng vươn lên, năng động, sáng tạo, góp phần xứng đáng vào thành tựu to lớn của đất nước. Song các tác giả cho rằng trong hoàn cảnh mới, sự tác động của kinh tế thị trường đã bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Một bộ phận không nhỏ cán bộ bị thoái hoá về chính trị và phẩm chất, tham ô, lãng phí, quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội và thực dụng, không ít cán bộ bị giảm sút uy tín, không còn là công bộc của dân, thậm chí trù dập, ức hiếp nhân dân. Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh.
Đỗ Minh Cương, Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009. Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề: Sự cần thiết của công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong công tác cán bộ nói chung; các yêu cầu và quan điểm đối với công tác quy hoạch. Quy hoạch cán bộ có vai trò quan trọng trong công tác cán bộ, xây dựng Đảng vững mạnh; quy hoạch cán bộ là để có 5 kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng các yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ nói chung. Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho luận văn này nghiên cứu, bởi việc thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ cần phải gắn với công tác quy hoạch cán bộ.
Vấn đề hoàn thiện bộ máy tổ chức cán bộ quản lý tại các tổ chức, doanh nghiệp là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, dưới nhiều góc độ khác nhau như: Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013) với luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Thủy sản Việt Nam” đã đề cập đến cơ sở lý luận của tổ chức bộ máy quản lý, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, xác định mục tiêu việc thiết kế cơ cấu tổ chức, quá trình thiết kế cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Còn luận văn thạc sĩ „„Mô hình tổ chức quản lý công ty lâm nghiệp Nghi Lộc‟‟ của tác giả Nguyễn Văn Hà (2014) mới đề cập đến Bộ máy quản lý, cán bộ quản lý một cách tách rời, chưa đề cập đến mối liên quan, quan hệ biện chứng một cách chặt chẽ giữa hai phạm trù Bộ máy và Cán bộ. Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam” của tác giả Phí Công Chung (2015) tuy có đề cập đến bộ máy quản lý và vấn đề hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhưng đối tượng nghiên cứu lại là Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, với cơ cấu tổ chức và hoạt động cá biệt và không tổng quát. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề cán bộ, công chức, các tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức, coi yếu tố con người trong tổ chức bộ máy là nhân tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức.
Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng nêu vai trò của tổ chức nói chung, con người phải gắn với tổ chức thì mới phát huy được sức mạnh của tổ chức, cá nhân trong tổ chức. Để sử dụng đúng con người trong tổ chức một số tài liệu đã nêu ra yêu cầu quy hoạch cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo trong các tổ chức chính quyền, tổ chức Đảng nói chung. Các tài liệu này đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý luận, kiến thức, kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ lãnh đạo quản lý. Tuy nhiên, đề tài “Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của 6 Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo c ch tự chủ” có đối tượng nghiên cứu khác với các tài liệu nghiên cứu về cán bộ, công chức, bộ máy tổ chức chính quyền, tổ chức Đảng.
Điều này thể hiện ở đặc điểm của Viện là cơ quan sự nghiệp của nhà nước. Do vậy các yêu cầu về bộ máy quản lý và cán bộ quản lý khác với yêu cầu về bộ máy chính quyền và cán bộ công chức trong bộ máy chính quyền. Qua các công trình nêu trên có thể khẳng định rằng: Đề tài nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố. Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận về bộ máy và cán bộ quản lý sẽ được luận văn chú ý kế thừa có chọn lọc và phát triển trong khung lý thuyết của đề tài.
Cơ sở lý luận về bộ máy tổ chức quản lý 1. Khái niệm về quản lý, bộ máy quản lý và chức năng tổ chức trong quản lý 1. Khái niệm về quản lý Theo những cách giải thích và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, quản lý có thể được hiểu như là quá trình thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục đích đã định. Quản lý là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của con người, là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra - kiểm soát hoạt động trong một tổ chức nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đó.
Có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng khái niệm khái quát nhất được sử dụng rộng rãi đó là: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường (Phan Trung Chính, 2008. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức bộ máy quản lý của c quan Chính phủ. Đề tài khoa học-Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Trong khái niệm trên có các yếu tố: Chủ thể quản lý: Luôn là con người với tư cách là cá nhân hay tập thể (Bộ máy quản lý).