Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạch toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp Chương 3: Thực trạng công tác hạch toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH MTV Xây dựng - Đo đạc Gia Việt Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp hoàn thiện 3 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD:Ths.Nguyễn Tài Yên CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 2. Đặc điểm hạch toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp 2. Đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu: Khái niệm: Theo điều 25, khoản 1 trích từ thông tư 200/2014/TT-BTC định nghĩa rằng: Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm: - Về mặt nội dung: Nguyên vật liệu bao gồm nhiều thứ như: vôi, cát, gạch, đá, sỏi, xi măng sắt thép… Đây là những nguyên vật liệu rất đặc trưng của ngành xây lắp, khác hẳn với nguyên vật liệu của các ngành sản xuất khác như: sợi trong doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng giày, vải trong doanh nghiệp may mặc,… Khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu đề tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
- Về mặt giá trị: Giá trị nguyên vật liệu cần thiết để tạo ra một sản phẩm xây lắp thường rất lớn, có thể lên tới hàng chục, hàng trăm triệu hay hàng tỷ đồng. Khi tham gia vào quá trình sản xuất toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm. - Về mặt khối lượng: Khối lượng nguyên vật liệu lớn, chẳng hạn khối lượng của xi măng, sắt thép, cát, đá, … có thể lên đến hàng nghìn tấn trong một công trình. Chi phí vận chuyển của nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất thi công một đơn vị sản phẩm xây lắp cũng khác nhau trong từng giai đoạn cụ thể, ví dụ với một tòa nhà cao tầng thì chi phí vận chuyển nguyên vật liệu để xây tầng 1 nhỏ hơn nhiều so với chi phí vận chuyển cùng lượng nguyên vật liệu đó để xây tầng thứ 15, 16 (chi phí này được tính vào chi phí nhân công).
4 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD:Ths.Nguyễn Tài Yên Vai trò của nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, từ 70%- 75%. Trong quá trình sản xuất thi công các công trình, nguyên vật liệu chuyển dịch toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm. Có thể nói nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên sản phẩm, không có nguyên vật liệu thì sẽ không có sản phẩm.
Nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và số lượng sản phẩm. Số lượng nguyên vật liệu nhiều thì số lượng sản phẩm sẽ nhiều và ngược lại. Mặt khác, muốn sản phẩm có chất lượng tốt thì nguyên vật liệu cũng phải có chất lượng tốt. Vì vậy, một chính sách quản lý và sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Hơn nữa, trong các doanh nghiệp xây lắp, khối lượng nguyên vật liệu rất lớn, nếu công tác quản lý không tốt sẽ gây thất thoát, lãng phí một lượng nguyên vật liệu đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong xu thế thị trường hiện nay, với nguồn lực như nhau thì việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu đầu vào sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, quyết định sự thành công trong công tác kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, nguyên vật liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp xây lắp. Do đó, việc tổ chức quản lý nguyên vật liệu là việc làm rất cần thiết và quan trọng trong mỗi doanh nghiệp.
Thực hiện tốt việc này sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu: Theo GS.TS Đặng Thị Loan (2011): Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp có đặc điểm là số lượng lớn, nhiều chủng loại và hay bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Vì vậy yêu cầu quản lý nguyên vật liệu là một yêu cầu cấp thiết và cần được thực hiện đồng bộ ở tất cả các khâu từ thu mua, dự trữ đến bảo quản và sử dụng. Trong khâu thu mua, nguyên vật liệu phải được quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá mua, thuế và chi phí mua.
Mỗi loại nguyên liệu chỉ được phép hao hụt trong định mức. Bên cạnh đó, quá trình thu mua cũng cần được quản lý chắt chẽ về mặt thời gian, tiến độ thực hiện. 5 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD:Ths.Nguyễn Tài Yên Trong quá trình bảo quản, để bảo quản tốt nguyên vật liệu dự trữ, giảm thiểu hư hao, mất mát, các doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, bố trí nhân viên thủ kho có đủ phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn để quản lý nguyên vật liệu tồn kho và thực hiện các nghiệp vụ nhập xuất kho, tránh việc bố trí kiêm nhiệm chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư. Trong khâu sử dụng, cần tổ chức việc ghi chép nhằm phản ánh chính xác tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu.
Trên cơ sở đó, so sánh với giá thành kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Từ đó tìm biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu. Trong dự trữ nguyên vật liệu, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán chính xác giá thành kế hoạch trên cơ sở giá thành dự toán, từ đó xác định lượng nguyên vật liệu cần thiết cho mỗi công trình và dự trữ đầy đủ. Tuy nhiên cần nói rõ hơn về vấn đề dự trữ như sau: trong các doanh nghiệp xây lắp, các công trình ở rải rác các nơi nên doanh nghiệp không thể dự trữ nguyên vật liệu vì chi phí bảo quản và vận chuyển quá lớn.
Doanh nghiệp chỉ dự trữ tại kho công trình đảm bảo việc thi công chính công trình đó được diễn ra liên tục, không bị ngừng do thiếu nguyên vật liệu. Với cách thức quản lý nguyên vật liệu như vậy, doanh nghiệp sẽ có đầy đủ thông tin về giá trị, hiện vật của từng loại khi cần. Vai trò và nhiệm vụ hạch toán nguyên vật liệu: Theo Đặng Thị Loan (2011), hạch toán nguyên vật liệu là việc ghi chép, phản ánh đầy đủ tình hình thu mua, nhập, xuất và dự trữ nguyên vật liệu lên sổ sách kế toán. Thông qua tài liệu kế toán nguyên vật liệu, nhà quản lý có thể có được thông tin cần thiết về nguyên vật liệu như: vật liệu cố đảm bảo chất lượng không, thừa hay thiếu so với nhu cầu sản xuất, nguồn cung cấp nào tốt… Những thông tin này giúp cho nhà quản lý có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp với thực tế, đảm bảo yêu cầu quản lý nguyên vật liệu.
Như vậy hạch toán nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong quản lý và sử dụng nguyên vật liệu. Để phát huy được vai trò đó đòi hỏi công tác hạch toán nguyên vật liệu phải đảm bảo những yêu cầu nhất định về quản lý và cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 6 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD:Ths.Nguyễn Tài Yên - Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu. - Ghi chép, tính toán, phản ánh trung thực, chính xác, kịp thời số lượng, chất kượng và giá thành thực tế của nguyên vật liệu nhập kho. - Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số lượng và giá trị nguyên vật liệu tồn kho, phát hiện kịp thời nguyên vật liệu thừa, thiếu, kém phẩm chất, có biện pháp xử lý kịp thời.
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu. Phân loại và tính giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp: 2. Phân loại nguyên vật liệu: Phân loại theo vai trò và tác dụng nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu sử dụng trong các doanh nghiệp xây lắp nguyên vật liệu có nhiều loại, nhiều thứ có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong thực tế công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp, đặc trưng dùng để phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất thi công.
Theo đặc trưng này, nguyên vật liệu được phân ra các loại như sau: (trích khoản 1, điều 25 của TT200/2014/TT-BTC) + Nguyên liệu và vật liệu chính (NVLC): là nguyên liệu, vật liệu mà sau quá trình sản xuất thi công sẽ cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm. Đó là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm xây lắp như: xi măng, sắt thép, nhựa đường, đá, cát, sỏi, … Danh từ nguyên liệu ở đây dùng để chỉ đối tượng lao động chưa qua chế biến công nghiệp. + Nguyên vật liệu phụ: là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để bảo đảm cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý như cốt pha, ván khuôn ép, bao bì, các loại gia phụ,. + Nhiên liệu: là các loại nhiên liệu ở thể lỏng, thể rắn, thể khí dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị thi công như: xăng, dầu… 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD:Ths.Nguyễn Tài Yên + Phụ tùng thay thế: là các loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định.
+ Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ bản.