Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng trả lương của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện các hình thức trả lương tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến các hình thức trả lương trong doanh nghiệp 2. Khái niệm tiền lương Một số khái niệm cơ bản về tiền lương Qua các thời kỳ lịch sử và sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế thì khái niệm về tiền lương được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.
Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng phù hợp với quan hệ cung – cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền công là số tiền người thuê lao động trả cho người lao động để thực hiện một khối lượng công việc hoặc trả cho một thời gian làm việc (thường theo giờ), trong những hợp đồng thỏa thuận thuê nhân công phù hợp với quy định của pháp luật lao động và pháp luật dân sự về thuê mướn lao động”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO -International Labour Orgazination), tiền lương (salary) là số tiền mà ngưởi sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng.
Tiền công (wage) là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao động (chưa trừ thuế thu nhập và các khoản khấu trừ theo quy định), được tính dựa trên số lượng sản phẩm làm ra hoặc số giờ làm việc thực tế. Theo từ điển kinh tế thị trường “Tiền lương là tiền trả hàng tháng cho một nhân viên làm việc trong văn phòng hay nhân viên quản lý”. Định nghĩa này mới chỉ đề cập đến nhóm lao động hay đối tượng lao động là nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý hay đối tượng lao động gián tiếp mà chưa đề cấp đến nhóm đối tượng lao động trực tiếp sản xuất. Mặt khác tiền lương không phải nhất thiết phải trả theo tháng, có thể trả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo tuần, nửa tháng tùy theo thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động.
Với cách hiểu này về tiền lương, có thể thấy trách nhiệm của người mua sức lao động là chủ yếu vì tiền lương mà họ phải trả chứ chưa nói lên được những gì mà họ nhận được hay nói cách khác định nghĩa chưa nói lên trách nhiệm của người lao động đối với người sử dụng lao động trong việc mua và bán sức lao động. Theo quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 thì “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”. Tại Điều 56 Bộ Luật lao động ghi “ Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường có thể bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động, mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác”.
Qua đó có thể thấy, mức lương tối thiểu là một trong những căn cứ quan trọng buộc người sử dụng lao động phải quan tâm khi tiến hành trả lương cho người lao động. Mức lương tối thiểu được Nhà nước bảo hộ bằng pháp luật, chống lại sự bóc lột quá mức đối với người lao động, hạn chế phân hóa xã hội về thu nhập. Tuy nhiên đây cũng chính là nguyên nhân làm giảm tính linh hoạt của thị trường lao động bởi tiền lương cũng phải tuân theo quy luật cung cầu lao động, là sự mặc cả sòng phẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động hay giữa những người đi mua hoặc thuê sức lao động và những người bán sức laođộng.TS Phạm Công Đoàn (2012): Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật Nhà nước. Ngoài ra còn một số khái niệm về tiền lương như sau: Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động.
Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc… ngay trong quá trình lao động. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ. Tiền lương tối thiểu là tiền lương trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện làm việc bình thường của xã hội. Mức lương tối thiểu là do Nhà nước quy định trong từng giai đoạn, là sơ cở để xác định và xây dựng các mức lương khác.
Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của lao động tiến đến mức độ phức tạp, quan trọng mà người lao động hoàn thành công việc. Tiền lương cơ bản được xác định: Tiền lương cơ bản = Tiền lương tối thiểu x Hệ số tiền lương Như vậy, “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường, được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”. Khái niệm trả lương Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao độngcủa học thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao dộng mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Công tác tiền lương là toàn bộ những hoạt động liên quan đến việc hình thành quản lý và phân phối tiền lương.
Các hoạt động đó được thực hiện trên cơ sở các quyết định ban hành của Nhà nước, các ngành có liên quan. Vì vậy các doanh nghiệp tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình để thực hiện công tác trả lương hiệu quả nhất. Vì vậy, “Trả lương là quá trình tổ chức mà doanh nghiệp (người sử dụng lao động) thực hiện việc chi trả tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận giữa hai bên trên cơ sở các quy định của pháp luật. Khái niệm quỹ lương - Quỹ tiền lương:Quỹ tiền lương của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (tiền ăn giữa ca, tiền hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần áo đồng phục .) mà doanh nghiệp trả cho các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý Phân loại quỹ lương theo các tiêu chí sau: * Căn cứ vào sự hình thành và sử dụng quỹ tiền lương 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quỹ lương kế hoạch: Là tổng số tiền dự tính để trả cho người lao động.
Quỹ lương thực hiện: Là tổng số tiền thực lĩnh đã chi, trong đó có những khoản không nằm trong kế hoạch. * Căn cứ theo mức độ ổn định của các bộ phận trong quỹ tiền lương Quỹ lương cố định: Là quỹ lương được tính dựa vào hệ thống thang bảng lương. Phần này tương đối ổn định, ít phụ thuộc vào kết quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp. Quỹ lương biến đổi: Bao gồm các khoản phụ cấp, tiền thưởng, phần này thay đổi phụ thuộc vào dự thay đổi cơ cấu tổ chức, cán bộ, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động cũng như kết quả hoạt động sản suất kinh doanh.
* Căn cứ vào đối tượng trả lương Quỹ lương lao động trực tiếp (công nhân sản xuất) Quỹ lương lao động gián tiếp (cán bộ quản lý, phục vụ). * Căn cứ vào nhóm các bộ phận hình thành Quỹ lương cấp bậc: Số lượng người và cấp bậc tương ứng Quỹ lương cơ bản: Gồm quỹ lương cấp bậc công với các khoản phụ cấp có tính chất lương. * Căn cứ vào đơn vị thời gian: Quỹ lương giờ, quỹ lương ngày, quỹ lương tháng và quỹ lương năm. Tổng quỹ tiền lương chung năm kế hoạch để lập kế hoạch tổng chi về tiền lương của doanh nghiệp được xác định theo công thức: ∑Vkh = Vkhđg + Vkhcđ Trong đó: +∑Vkh : Tổng quỹ lương kế hoạch năm của doanh nghiệp + Vkhđg: Tổng quỹ lương kế hoạch theo đơn giá tiền lương.
+Vkhcđ: Tổng quỹ lương kế hoạch theo chế độ (không tính trong đơn giá tiền lương). * Vkhđg và Vkhđc được xác định như sau: a/ Quỹ tiền lương kế hoạch tính theo đơn giá: Vkhđg = Vđg x Csxkh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó: + Vkhđg : Quỹ tiền lương kế hoạch tính theo đơn giá +Vđg: Đơn giá tiền lương +Csxkh : Tổng doanh thu hoặc tổng chi phí (chưa có tiền lương) hoặc P hoặc tổng sản phẩm (kể cả sản phẩm quy đổi) tiêu thụ. b/ Quỹ tiền lương kế hoạch theo chế độ (không tính trong đơn giá) Vkhcđ = Vpc + Vbs Trong đó: + Vkhcđ :Tổng quỹ lương kế hoạch theo chế độ (không tính trong đơn giá tiền lương). + Vpc : Các khoản phụ cấp lương và các chế độ khác (nếu có) không được tính trong đơn giá tiền lương, bao gồm: phụ cấp thợ lặn, phụ cấp đi biển, chế độ an toàn hàng không, thưởng vận hành an toàn ngành điện.
+ Vbs: Tiền lương của những ngày nghỉ có hương lương.