Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về trả lương trong doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng trả lương tại Công ty Cổ phần công nghệ máy tính và kiến trúc Hà Nội Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện trả lương tại Công ty Cổ phần công nghệ máy tính và kiến trúc Hà Nội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2. TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm và định nghĩa cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp 2. Khái niệm tiền lương Tại Việt Nam và các nước trên thế giới khái niệm về tiền lương rất đa dạng, ví dụ: Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng luật pháp, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm Theo PGS.TS Phạm Công Đoàn (2012) nêu ra trong cuốn “ Giáo trình kinh tế doanh nghiệp thương mại”, khái niệm tiền lương được hiểu là một hình thức trả công lao động.
Để đo lường hao phí lao động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm người ta chỉ có thể sử dụng thước đo giá trị thông qua giá trị tiền tệ, vì vậy khi trả công cho người lao động người ta thường sử dụng hình thức trả lương. Theo đó tiền lương chính là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trên thị trường quyết định và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Ở Việt Nam, theo điều lệ 55 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi năm 2012 định nghĩa “ Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc” Do đó, có thể đưa ra khái niệm tiền lương như sau: Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước. Ở Việt Nam còn có một số khái niệm khác nhau như: tiền lương tối thiểu, tiền lương cơ bản, tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Tiền lương tối thiểu là tiền lương trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường của xã hội. Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định trong từng giai đoạn, là cơ sở để xác định các mức lương khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của lao động tiến đến mức độ phức tạp, quan trọng mà người lao động hoàn thành công việc. Tiền lương cơ bản được xác định: Tiền lương cơ bản = tiền lương tối thiểu × Hệ số tiền lương Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động do bán sức lao động của bản thân trong quá trình lao động Tiền lương thực tế là tiền lương thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng trên thị trường mà người lao động mua được từ tiền lương danh nghĩa.
Như vậy, tiền lương thực tế cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa cao hay thấp mà còn phụ thuộc vào giá cả, tư liệu tiêu dùng trên thị trường. Khái niệm trả lương Trả công lao động (hay thù lao lao động) chỉ các giá trị vật chất và phi vật chất mà người lao động nhận được do kết quả từ việc làm thuê cho người sử dụng lao động Thù lao lao động gồm lợi ích về tài chính và lợi ích phi tài chính và các dịch vụ mà người lao động được hưởng do làm thuê cho người chủ (Theo bài giảng “trả công lao động”, Trường Đại học Thương Mại) 2. Tổng quỹ lương Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản chủ yếu sau: Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Quỹ dự phòng từ năm trước chuyển sang Phân chia quỹ tiền lương cho các quỹ sau: - Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán, lương sản phẩm, lương thời gian (ít nhất bằng 76% tổng quỹ tiền lương) - Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất, chất lượng cao, tay nghề giỏi (tối đa không vượt quá 2% tổng quỹ tiền lương) - Quỹ dự phòng cho năm sau (tối đa không vượt quá 12% tổng quỹ tiền lương) 2.
Đơn giá tiền lương Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họ hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc. Để tính đơn giá tiền lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào hai mặt số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động thể hiện qua mức hao phí thời gian lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm trong một khoảng thời gian theo lịch nào đó, ví dụ số giờ lao động trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày, số ngày lao động trong tuần hay trong tháng. Đơn vị số lượng lao động chính là số thời gian lao động.
Chất lượng lao động là trình độ lành nghề của người lao động được sử dụng vào quá trình lao động. Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục đào tạo, kinh nghiệm kỹ năng. Chất lượng lao động càng cao, thì năng suất lao động và hiệu quả làm việc cũng càng cao. Rõ ràng muốn xác định đúng đắn đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm hay một loại công việc cụ thể, chúng ta cần phải xác định rõ số lượng và chất lượng lao động nào đó đã hao phí để thực hiện công việc đó.
Đồng thời cần phải xác định điều kiện lao động của công việc cụ thể đó, bởi vì điều kiện lao động khác nhau có ảnh hưởng đến mức hao phí sức lao động trong quá trình làm việc. Những công việc phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải được tính đơn giá tiền lương cao hơn so với những công việc làm việc trong điều kiện bình thường. Sự phân biệt này làm tăng tính linh hoạt của đơn giá tiền lương, gắn đơn giá tiền lương với năng suất lao động và chất lượng công việc. Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, có phân biệt theo điều kiện lao động.
Người ta sử dụng các loại phụ cấp về điều kiện lao động để tính vào đơn giá tiền lương cho những công việc thực hiện ở những điều kiện lao động khác nhau. Nội dung của trả lương tại doanh nghiệp 2. Vai trò của trả lương Tiền lương là một trong những công cụ kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động. Vì vậy sử dụng tiền lương làm đòn bẩy nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao với ý thức kỷ luật vững vàng đòi hỏi công tác tổ chức tiền lương trong doanh ngiệp phải được đặc biệt coi trọng.
Tiền lương có vai trò rất lớn không chỉ đối với bản thân người lao động mà còn đối với hoạt động của doanh nghiệp. Trả lương hợp lý sẽ đảm bảo tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động, từ đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, từ đó người lao động nâng cao thu nhập, nâng cao năng lực và sự phát triển của bản thân và gia đình. Trả lương hợp lý cũng góp phần cân đối giữa phần chi phí với lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp, đầu tư theo chiều sâu để gia tăng năng suất và hiệu quả. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trả lương hợp lý cũng là yếu tố tại ra sự kích thích của người lao động (thực hiện chức năng đòn bấy kinh tế) qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo thuyết động viên, sẽ có hai xu hướng làm việc của người lao động: (1) làm việc theo những ràng buộc của hợp đồng lao động, (2) làm việc nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân. Trong nền kinh tế thị trường, rõ ràng xu hướng (2) chiếm vị trí chủ đạo. Trả lương ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển năng lực của nhân viên. Trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến đổi mới, do vậy cần phải sử dụng công cụ trả lương lao động để kích thích người lao động vượt qua thử thách và sáng tạo, thay đổi.
Muốn làm như vậy, ngoài các nỗ lực của doanh nghiệp, nỗ lực của từng cá nhân chiếm vị trí quan trọng nhất. Trả lương hợp lý cũng góp phần tạo lập, duy trì và phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực, nguồn nhân lực, giữ và thu hút được nhân tài, phát triển đội ngũ, tạo bầu không khí và văn hóa doanh nghiệp tích cực trong doanh nghiệp. Không chỉ nâng cao chất lượng đối với môi trường làm việc mà còn nâng cao phấn đấu của từng người lao động. Đây chính là chìa khóa thành công của doanh nghiệp.
Theo định hướng này rất nhiều nghiên cứu về tạo động lực làm việc và phương pháp tạo động lực với từng đối tượng lao động được triển khai. Nguyên tắc trả lương Khi trả lương phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc sau: Tiền lương phải được trả trên cơ sở sức lao động và năng suất lao động. Những lao động có trình độ cao, thành thạo và chất lượng cao thì được trả công cao và ngược lại. Do vậy tiền lương phải phản ánh đúng giá trị của sức lao động và được coi là giá cả của sức lao động.
Trả lương phải căn cứ vào điều kiện lao động cụ thể. Việc trả công lao động phải tính đến thực trạng của quá trình lao động để kịp thời động viên năng lực sẵn có, giải phóng sức lao động và bù đắp những khó khăn mà người lao động phải gánh chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như điều kiện môi trường lao động, mức độ nặng nhọc của công việc.