Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn. Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan.
Thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích, thảo luận đánh giá kết quả nhằm phát hiện ra nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu. Trình bày ý kiến kết luận và các khuyến nghị những giải pháp khả thi để giải quyết chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.
Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về nghèo “Đói nghèo được hiểu như một tình trạng thiếu các nguồn lực của những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng để tạo ra các nguồn thu nhập để có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng cơ bản của những khu vực mà người nghèo hay sinh sống, là những nơi thiếu nước sạch, thiếu ánh sáng (điện) hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác”.
Hiện nay có rất nhiều quan niệm về nghèo cụ thể là: Tại hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Cũng tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa ra định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình xóa đói giảm nghèo Việt Nam - 1995 đã đưa ra định nghĩa “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”. Một cách hiểu khác “Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống trung bình dưới ngưỡng quy định của sự nghèo.
Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng vùng, miền, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng vùng, miền hay từng quốc gia”. Kể từ năm 2000, Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là “nghèo thu nhập, nghèo tiếp cận và nghèo sức mạnh” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Nghèo thu nhập: là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo. “Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia”. Nghèo tiếp cận: làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng lẫn quẩn đói nghèo.
“Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách”. Nghèo sức mạnh: “Thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ. Điều đó liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh, để có thể có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến họ hay không”. Đặc điểm của hộ nghèo Qui định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), “Người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn.
Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, không biết mở mang ngành nghề, không có điều kiện tiếp xúc thị trường. Những hộ nghèo đa phần là đông con hoặc ít lao động chính trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của đời sống”. Khái niệm nghèo có rất nhiều tác giả đề cập đến. Tuy nhiên, các tác giả đều đề cập đến khái niệm nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
Để thực hiện thống nhất theo quan điểm chung, đề tài thống nhất khái niệm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Lao động và lao động nông thôn Vòng xoáy của nghèo, đói được định nghĩa là sự tiếp diễn dường như không thể kết thúc của đói nghèo. “Là tập hợp những nhân tố, những sự kiện mà người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nghèo một khi đã xuất hiện thì tiếp tục từ đời này sang đời khác trừ khi có một sự tác động can thiệp từ bên ngoài” (Bussiness Dictionary). Theo vòng xoáy nghèo đói, đa phần hộ nghèo bị vướn hàng loạt các tình huống bất lợi của xã hội: Nguồn thu nhập thì thấp, giáo dục thấp không được học hành, thiếu thốn về nhà ở, sức khỏe yếu kém thường bệnh tật.
thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng, không có đủ lương thực, thực phẩm và nguồn nước sạch cho sinh hoạt trong gia đình. do vậy không đủ điều kiện để cải thiện cho thu nhập. Từ đó các hộ gia đình vướng vào tình trạng nghèo đói, kéo theo bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết chóc; kết quả kiệt quệ về sức khỏe lao động và dẫn đến kinh tế hộ gia đình càng ngày càng giảm hơn, thu nhập thấp hơn. Suy giảm Thu nhập kinh tế cá nhân Kết quả sức Khó tiếp cận đến nguồn lao động lương thực và nước sạch Bệnh tật suy Tình trạng dinh dưỡng nghèo và đói và tử vong Hình 2.
Vòng xoáy nghèo đói Nguồn: CRNA ministries, Dự án Seo to Sea, Ending the cycleof Poverty Cần có những giải pháp tốt nhất, giúp cho hộ nghèo thoát khỏi vòng xoáy của cảnh đói nghèo thì vấn đề cần thiết là phải cải thiện sinh kế cho hộ nghèo thoát nghèo bền vững, bằng những chính sách giải quyết việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn, từ đó giúp cho người nghèo có được nguồn vốn để họ tự sản xuất, nhờ đó thực hiện tốt hơn các nhu cầu cơ bản như lương thực, thực phẩm, nước sạch. Cung cấp thuốc men hoặc hỗ trợ các dịch vụ về y tế, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo sẽ giúp họ có sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng lẫn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về sinh kế “Sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ”.
Khái niệm của DFID (Bộ phát triển Quốc tế Anh) đưa ra thì:“Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực, khả năng con người có được kết hợp với những quyết định, hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”. Trên cơ sở các khái niệm được thể hiện nêu trên cho thấy rằng, sinh kế là tổng hợp toàn bộ các hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu dựa trên cơ sở những nguồn lực sẵn có của con người như:“Nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, lao động và trình độ phát triển của khoa học công nghệ”. Tiếp cận sinh kế là vấn đề tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển, nhằm thúc đẩy quá trình trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Đây được xem là một trong nội dung tiếp cận với mục đích nắm giữ, cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặt quan trọng của đói nghèo tập trung vào một số yêu tố như: các vấn đề về kinh tế, an ninh lương thực.
Phương pháp tiếp cận sinh kế với mục đích nhằm giúp người dân đạt được những kết quả lâu dài trong việc sinh kế, các kết quả đó được tính bằng các chỉ số do bản thân họ tự xác lập, chính vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài. Sinh kế bền vững Sinh kế chỉ bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng của con người để sản xuất và duy trì phương tiện sống của họ. “Sinh kế bền vững là những sinh kế có thể ứng phó và hồi phục ngay sau những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường khả năng, tài sản và quyền, trong khi không tổn hại nền tảng tài nguyên thiên nhiên”(Chambers & Conway, 1991). “Sinh kế được xem là bền vững khi nó có khả năng đương đầu với những tổn thương mà không sự hỗ trợ nhất thời từ bên ngoài, đồng thời không gây ra tác động bất lợi đến sinh kế của người khác và không làm giảm sút nguồn tài nguyên có thể khai thác của các thế hệ tiếp theo” (DFID, 20001).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững Theo DFID, 1999 “Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại”. Bối cảnh dễ bị tổn thương Bối cảnh thường hay dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người.