Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Tổng quan địa bàn nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày khung phân tích về sinh kế, các khái niệm cơ bản, những nét chính một số nghiên cứu trước và cách thiết kế nghiên cứu của luận văn.1 Các khái niệm Sinh kế là hoạt động mà con người sử dụng nguồn vốn vật chất (nguồn tài nguyên và các khoản dự trữ như hàng nông nghiệp cất trữ trong kho) và phi vật chất (quan hệ xã hội, kiến thức và phương thức tiếp cận) tạo ra thu nhập nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu. Sinh kế được xem là bền vững khi người dân có thể đối phó và phục hồi trước các cú sốc của tự nhiên và xã hội; quan trọng hơn là người dân có thể duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của mình trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác của thế hệ tiếp theo (Chambers và Conway, 1991). Hộ gia đình tái định cư trong đề tài là hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp từ dự án thủy điện Đồng Nai 3 phải di dời đến nơi ở mới.
Hộ gia đình tái định cư tập trung là hộ gia đình được quy hoạch đến nơi ở mới tạo thành điểm dân cư mới. Khu tái định cư là nơi được quy hoạch để bố trí từ hai điểm tái định cư trở lên, chẳng hạn như khu TĐC xã Đắk Plao có 5 điểm tái định cư thôn 1, 2, 3, 4, 5; khu TĐC có cơ sở hạ tầng, công trình công cộng và đất dành cho hoạt động sản xuất. Người Mạ (tên gọi khác là Châu Mạ và các nhóm địa phương, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) cư trú ở Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông. Tuy nhiên, người Mạ sống tập trung ở Lâm Đồng là chủ yếu.
Địa bàn cư trú ban đầu của người Mạ trước đây ở đâu cho đến nay chưa xác định được. Hoạt động kinh tế chủ yếu là việc đốt rừng làm rẫy, trồng lúa. Những hoạt động săn bắt, hái lượm cũng còn tồn tại như hoạt động kinh tế phụ để bổ sung nguồn lương thực cho gia đình. Ngoài ra, người Mạ còn phát triển hai nghề thủ công là rèn và dệt.
Những sản phẩm của nghề rèn gồm có công cụ sản xuất hoặc vũ khí. Về nghề dệt, những chiếc khăn, tấm váy, mền, với hoa văn tinh tế và đầy màu sắc do người Mạ dệt là sản phẩm trao đổi được ưa chuộng ở vùng Nam Tây nguyên, (Phạm Thị Hồng Thủy, 2011). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khung phân tích Đề tài sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững (Sơ đồ 2.1) của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) trước hết xác định các yếu tố hình thành sinh kế con người và sau đó giúp chỉ ra tác động của các chính sách đến các yếu tố đó. Trong khung sinh kế bền vững, năm tài sản sinh kế được đề cập gồm: nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn xã hội; năm tài sản tạo thành năm đỉnh của hình ngũ giác cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa chúng đảm bảo ổn định sinh kế và giảm nghèo.
Như vậy, sinh kế không chỉ phụ thuộc vào một loại tài sản mà phụ thuộc vào sự kết hợp của các tài sản khác nhau.1: Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID Ghi chú: H: Nguồn vốn con người S: Nguồn vốn xã hội N: Nguồn vốn tự nhiên P: Nguồn vốn vật chất F: Nguồn vốn tài chính Các cơ cấu và quy Kết quả sinh kế TÀI SẢN SINH KẾ trình chuyển đổi Bối cảnh dễ bị Cơ cấu H -Thu nhập tăng tổn thương Ảnh hưởng -Thể chế CÁC CHIẾN và các LƯỢC SINH KẾ -Phúc lợi nâng cao -Các cấp chính -Các cú sốc S N nguồn tiếp quyền -Tính bền vững cao -Các xu hướng cận -Khu vực -An ninh lương thực -Tính mùa vụ tư nhân tăng cường -Luật -Chính sách -Sử dụng các nguồn P F -Văn hóa lực tự nhiên bền Quy trình vững Nguồn: DFID,1999 Trong khung phân tích sinh kế, việc phân tích sinh kế dựa trên mối liên hệ của các nhóm yếu tố sau: Bối cảnh dễ bị tổn thương là những tình huống bất lợi xảy ra khi con người không có khả năng đối phó. Có 3 loại tổn thương: (i) Thứ nhất, các cú sốc như tai nạn đi rừng hoặc khi làm việc, bệnh tật mất khả năng lao động, dịch bệnh làm thiệt hại tài sản hộ gia đình. (ii) Thứ hai, các xu hướng như sự suy giảm tài nguyên rừng, nguồn nước có thể khai thác, biến đổi khí hậu bất lợi. (iii) Thứ ba, tính mùa vụ như tình trạng được mùa mất giá khi lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- cung vượt quá lượng cầu, khi hết vụ thiếu việc làm hoặc vào vụ thu hoạch chính thiếu lao động.
Tài sản sinh kế gồm năm loại:(DFID, 1999) Nguồn vốn con người gồm các kỹ năng, kiến thức, ý tưởng sáng tạo, sức khỏe lao động, khả năng ứng phó trước các cú sốc giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và cải thiện đời sống. Trong mỗi hộ gia đình vốn con người gồm số lượng và chất lượng lao động sẵn có, vốn con người khác nhau tùy theo quy mô hộ gia đình, trình độ, kỹ năng, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe…Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình trong việc tạo ra và sử dụng bốn nguồn lực sinh kế còn lại của hộ gia đình. Vốn con người sẽ phát triển thông qua giáo dục và tiếp cận các dịch vụ y tế. Nguồn vốn tự nhiên gồm các loại tài nguyên thiên nhiên gồm đất đai, nguồn nước, rừng, biển, không khí, hệ động, thực vật… do con người khai thác phục vụ cho cuộc sống.
Vốn tự nhiên có vai trò quan trọng với hộ nghèo và hộ dân tộc thiểu số có lối sống phụ thuộc vào thiên nhiên. Đối với người dân xã Đắk Plao thì sinh kế của họ phụ thuộc vào một số loại tài nguyên quan trọng như đất đai, nguồn nước, rau rừng, cá suối. Như vậy nguồn vốn tự nhiên vô cùng quan trọng đối với người dân xã Đắk Plao. Nguồn vốn vật chất gồm tài sản công cộng và tài sản sở hữu tư nhân.
Tài sản công cộng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống điện, đường, nước sạch, hệ thống thông tin liên lạc) và cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, trạm y tế). Tài sản sở hữu tư nhân gồm các phương tiện phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Với người dân Đắk Plao, tài sản vật chất có nhà cửa, xe máy, tivi, điện thoại, dụng cụ lao động, quầy tạp hóa, đồ nghề sửa xe. Nguồn vốn tài chính gồm các nguồn lực hỗ trợ chính thức như tiền mặt, tiền gửi tiết kiệm, trợ cấp hay vốn vay để đáp ứng nhu cầu sinh kế người dân hoặc các nguồn tài chính phi chính thức như hụi, vay nặng lãi, sự hỗ trợ của người thân.
Các nguồn vốn phi chính thức với chi phí cao nên cân nhắc lựa chọn vì các nguồn vốn này thường không bền vững với việc thực hiện các chiến lược sinh kế. Nguồn vốn xã hội được định nghĩa bởi OECD là mạng lưới với các quy tắc, các giá trị và các sự hiểu biết được chia sẻ giúp làm thuận lợi sự hợp tác giữa các nhóm. Trong định nghĩa này, mạng lưới là các liên kết thế giới thực giữa các nhóm hoặc các cá nhân như TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- mạng lưới bạn bè, mạng lưới gia đình, mạng lưới đồng nghiệp. Vốn xã hội có vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Woolcock & Narayan, 2000).
Vốn xã hội đưa đến sự hỗ trợ lẫn nhau, sự hợp tác và lòng tin từ đó giúp nâng cao học vấn, cải thiện điều kiện chăm sóc trẻ em, mang lại an toàn cho cộng đồng và tạo ra hạnh phúc về mặt vật chất lẫn tinh thần. Các cơ cấu và quy trình chuyển đổi là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách, pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của người dân (DFID, 1999). Chiến lược sinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn vốn hiện có. Chiến lược sinh kế là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh hưởng lớn đến sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh kế.
Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới hay thay đổi quy mô hoạt động (Tạp chí Khoa học Đại học Huế, số 3, năm 2012). Kết quả sinh kế là mong muốn của các hộ dân đạt được thông qua chiến lược sinh kế. Mọi người mong muốn tăng thu nhập, tăng cường phúc lợi, giảm tính dễ bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Muốn vậy hộ dân cần xây dựng chiến lược sinh kế dựa vào khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn tại địa phương và các chính sách hiện hành của các cấp chính quyền trong nỗ lực giảm nghèo của người dân Đắk Plao.
Sự ảnh hưởng của 5 loại nguồn vốn tiếp cận tác động đến kết quả sinh kế của các hộ dân trong nỗ lực giảm nghèo.3 Các nghiên cứu trước có liên quan Hà Mỹ Trang (2016), sinh kế cho hộ dân tộc Khmer nghèo trường hợp phường 2, xã Hoà Lạc và xã Vĩnh Hải tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Đề tài sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999), nghiên cứu phân tích năm yếu tố của nguồn vốn sinh kế để đánh giá những rào cản trong việc cải thiện sinh kế của các hộ dân tộc Khmer nghèo. Các giải pháp được đưa ra: công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phát triển giáo dục trong đó chú trọng tuyên truyền giáo dục ý thức người dân. Hạn chế của đề tài là tỷ lệ hộ khảo sát chỉ chiếm 1,8% tổng hộ vì tổng thể quá lớn đến 5300 hộ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.