CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu nhập từ dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 50 – 70% thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại). Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Riêng tại Việt Nam, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là hoạt động sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy RRTD cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN: RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia RRTD thành các loại khác nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại rủi ro sau đây: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là loại rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là loại rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh rủi ro là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có độ rủi ro cao. Nếu căn cứ tính chất khách quan và chủ quan gây ra rủi ro thì RRTD gồm: - Rủi ro khách quan: là rủi ro bắt nguồn từ các nguyên nhân khách quan như thiên tai, luật pháp, sự biến động của kinh tế vĩ mô, người vay bị chết, mất tích hoặc các rủi ro ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan: là rủi ro bắt nguồn từ phía người vay như cố ý lừa đảo ngân hàng, năng lực điều hành và quản lý doanh nghiệp kém hiệu quả. Ngoài ra còn có rủi ro chủ quan bắt nguồn từ phía ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng - Hệ số nợ quá hạn: Hệ số nợ quá hạn được tính như sau Dư nợ quá hạn Hệ số nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho vay Nợ quá hạn là những khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi quá hạn. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì tuỳ vào thời gian quá hạn của khoản nợ vay mà nợ quá hạn sẽ được phân vào nhóm 2 (nợ cần chú ý), nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) hoặc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). - Tỷ lệ nợ xấu: Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ cho vay Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì dư nợ cho vay của TCTD được phân thành 5 nhóm và định nghĩa nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ xấu dưới 3% có thể coi là ngưỡng khá tốt trong hoạt động ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế và Việt Nam đối với tỷ lệ nợ xấu là 5%. - Hệ số rủi ro tín dụng: Tổng dư nợ cho vay Hệ số RRTD = x 100% Tổng tài sản có Hệ số RRTD càng cao cho thấy TCTD sẽ đối diện với RRTD càng lớn. Tại Việt Nam hiện nay các NHTM có ít sản phẩm dịch vụ ngân hàng, hầu hết các ngân hàng đều tập trung vào dịch vụ tín dụng nên hệ số này khá cao so với các ngân hàng ở các nước phát triển. - Tỷ lệ dự phòng RRTD: Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ dự phòng RRTD = x 100% Tổng dư nợ cho vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Tỷ lệ xoá nợ: Các khoản nợ đã xoá Tỷ lệ xoá nợ = x 100% Tổng dư nợ cho vay 1.4 Một số mô hình đo lường RRTD Để đo lường, đánh giá RRTD đối với KHDN, các nhà kinh tế đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau.
Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm các mô hình phản ánh về mặt định lượng và những mô hình phản ánh về mặt định tính. Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau nên các ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro của doanh nghiệp.1 Mô hình định tính về RRTD – mô hình 6C Trước khi ra quyết định cấp tín dụng đối với một khách hàng trước tiên ngân hàng cần xem xét, nghiên cứu chi tiết về khách hàng vay ở “6 khía cạnh - 6C”, chi tiết từng khía cạnh như sau: - Tư cách của người vay (Character): cán bộ tín dụng phải tin chắc rằng người xin vay có mục đích rõ ràng và có thiện chí trả nợ khi đến hạn. Khi mục đích xin vay đã rõ ràng, CBTD cần phải xác định xem có phù hợp với CSTD hiện hành của ngân hàng không, bên cạnh đó cần xem xét khách hàng có thiện chí trả nợ hay không. Tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay gọi chung là “tư cách người vay”.
Nếu phát hiện thấy người vay giả dối trong kế hoạch sử dụng vốn và trả nợ như đã thỏa thuận, thì ngân hàng cần phải từ chối cho vay, nếu không RRTD sẽ phát sinh gây thiệt hại cho ngân hàng. - Năng lực của người vay (Capacity): CBTD phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Chỉ những người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý mới có đủ tư cách để ký kết các hợp đồng tín dụng, nếu không hợp đồng sẽ vô hiệu và gây rủi ro cho ngân hàng. - Thu nhập của người vay (Cash): đây là tiêu chí vô cùng quan trọng để ra quyết định có cho vay hay không.
Nếu người vay không chứng minh được đủ nguồn trả nợ thì đây là nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho khoản vay rất lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ cho ngân hàng khi khách hàng vay vốn không trả được nợ. Chính vì vậy ngân hàng cần đánh giá một cách trung thực, khách quan về tài sản đảm bảo để đảm bảo quyền lợi cho ngân hàng. - Các điều kiện tín dụng (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo tình hình kinh tế của đất nước, của khu vực, ngành kinh tế để đưa ra các điều kiện tín dụng nhằm đảm bảo an toàn vốn vay của ngân hàng.
- Kiểm soát (Control): tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay. Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng. Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào chất lượng của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD.2 Mô hình lượng hóa RRTD Ngày nay, các ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa RRTD. Các mô hình này có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn khách hàng vay với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát RRTD của ngân hàng.
Các mô hình chấm điểm tín dụng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng hóa xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau. Sau đây là một số mô hình lượng hóa RRTD cơ bản thường được sử dụng: Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model) Mô hình điểm số Z do E.