CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH ỰC TIỄN CÔNG TÁC QU ẢN LÝ TÀI CHÍNH 1. Lý lu ận chung về các trường THPT công lập 1. Khái ni ệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các trường THPT công lập Khái niệm: Trường trung học phổ thông là một trường tiếp nối của trường THCS đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18. Trường THPT công l ập gồm các khối học: lớp 10, lớp 11, lớp 12.
Sau khi ốt nghiệp trường,cấp học này, học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp trung học p ổ t ông. Trường được sự quản lý tr ực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thà h phố trực t uộc Trung ương). Hệ thống các trường THPT bao gồm hai loại trường: -Trường THPT công lập là những trường do ngân sách nhà nước đầu tư, đảm bảo cơ bản các điều kiện dạy và học theo quy chế hoạt động do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành. -Trường THPT ngoài công l ập (trường tư thục) là những trường do tư nhân đầu tư vốn thành lập.
Hoạt động t eo quy chế, quy định của các cấp có thẩm quyền. Những trường ngoài công l ập được thành lập là để huy động tốt các nguồn lực xã hội đóng góp cho phát triển GDĐT theo chủ trương xã hội hóa của Đảng và nhà nước. [22,19-20] Trường THPT công lập có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây : - Tổ chức iảng dạy, học tập và các ho ạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chươ g trì h iáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai m ục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán b ộ, nhân viên theo quy định của pháp luật. - Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công. - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong ho ạt động giáo dục. 5 - Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, h ọc sinh tham gia hoạt động xã hội. - Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của giáo dục THPT - Vị trí, vai trò c ủa giáo dục THPT [ 22, 18] Để thực hiện các mục tiêu giáo d ục của mình, mỗi nước có một hệ thống giáo dục quốc dân đặc trưng. Hệ thống giáo dục quốc dân là toàn b ộ các thiết chế GD - ĐT của một quốc gia do Nhà nước thiết lập quản lý dưới ình thức cụ thể khác nhau và được cấu trúc theo bậc, cấp, ngành phương thức giả g dạy và quản lý. Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, các bậc học được phân gành: Giáo d ục tiền học đường, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học.
Trong giáo d ục phổ thông có bậc tiểu học, bậc trung học. Bậc trung học có cấp THCS và ấp THPT. Giáo dục cấp trung học p ổ t ông dành cho trẻ em đã hoàn thành và t ốt nghiệp THCS, ở độ tuổi 15, được t ực iện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12, tương ứng với cấp học giáo dục trung học phổ thông là các trường trung học phổ thông. Theo cách hi ểu chung nhất thì giáo dục trung học phổ thông là một bộ phận cấu thành quan tr ọng của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và kỹ năng phổ thông cơ bản nhất về khoa học, văn hóa, nghệ thuật hay đi vào cuộc sống lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân.
Mục tiêu giáo d ục nói chung, giáo dục trung học phổ thông nói riêng của mỗi quốc gia tùy thu ộc vào quan điểm phát triển giáo dục và chế độ chính trị của quốc gia đó. Do vậy, mỗi quốc gia có thể lựa chọn mục tiêu phát tri ển giáo dục trung học phổ thông theo các định hướng phát triển nguồn nhân lực phù h ợp với từng hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Trên cơ sở đó, mỗi quốc gia có một hệ thống giáo dục riêng phản ánh quan điểm giáo dục của quốc gia mình. Đối với Việt Nam giáo dục 6 phổ thông nói chung giáo dục trung học phổ thông nói riêng là n ền tảng văn hóa của một đất nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc.
Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam XHCN, đồng thời chuẩn bị lực lượng lao động dự trữ và nguồn tuyển chọn để đào tạo công nhân và cán b ộ cần thiết cho sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và tăng cường quốc phòng. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam. Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng c ốt trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đầu tư và tài chính cho phát triển giáo dục - đào tạo * Đặc điểm đầu tư vào giáo dục.
Một là , đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển con người Ở một mức độ khái quát nhất, mục đích phát triển của bất kỳ quốc gia nào cũng nhằm nâng cao chất lượng uộc sống của con người. Con người trở thành trung tâm của sự phát triển, là nhân t ố chi phối quyết định chính sách của mỗi quốc gia. Chiến lược phát tr ển của mỗi quốc gia cần hướng trọng tâm vào giáo d ục, coi đây là nhân tố chính thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ngược lại sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo nâng cao cuộc sống của con người. Như vậy, có thể nói, đầu tư cho iáo dục chính là đầu tư vào con người, vì con người và cho sự phát triển của con ười.
Hai là, đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển Giáo dục không chỉ là mục đích mà còn là điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục được xem như là một bộ phận của cơ sở hạ tầng xã hội, nền tảng quan trọng và điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Vai trò c ủa giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tr ở nên quan trọng hơn trong bối cảnh thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, trong đó tri thức và thông tin tr ở thành những yếu tố hàng đầu và là ngu ồn tài nguyên vô giá cho sự phát triển. 7 Kinh nghiệm thực tiễn của thế giới cho thấy, những nước nghèo muốn tăng trưởng kinh tế nhanh và rút ng ắn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần đặc biệt chú tr ọng nâng cao trình độ học vấn của người dân.
Tổ chức UNESCO đã rút ra nhận định với nội dung: Không có sự tiến bộ và thành đạt nào có th ể tách rời sự tiến bộ và thành đạt trong giáo dục. Quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo d ục một cách có hiệu quả thì tụt hậu so với sự phát triển của thế giới là điều khó tránh khỏi. Nhận thức được vai trò to l ớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã sớm có quan điểm coi “Giáo dục l à qu ốc sách hàng đầu” và “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong n ững động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát tr ển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Ba là, đầu tư phát triển giáo dục là s ự nghiệp của toàn xã h ội Giáo dục là quyền được thụ hưởng ủa con người, nhưng mỗi người đều trách nhiệm xây dựng và phát tri ển sự nghiệp giáo dục chung của quốc gia.
Giáo dục ngày nay không còn là khu v ực c ỉ có một chủ thể cung cấp duy nhất là Nhà nước. Giáo dục cũng không còn bó h ẹp trong độ tuổi đến trường, mà được mở rộng, diễn ra trong suốt cuộc đời con người. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể và không nên đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt động giáo dục, mà cần xác định nhiệm vụ chi của mình ở mức độ thích hợp sao cho đảm bảo được sự công bằng tro g giáo d ục v à tạo động lực, định hướng cho các chủ thể khác cùng tham gia phát triển giáo dục. Nhà nước thông qua ch ủ trương xã hôi hóa giáo d ục huy động, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức kinh tế, xã hôi, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp một phần chi phí cho giáo dục bằng các khoản thu dưới dạng phí, cho phép các cá nhân, t ổ chức đủ điều kiện thành lập cơ sở giáo dục, kêu gọi sự đóng góp của cộng đồng nhằm giảm tải chi ngân sách.
Ngày nay, chính sách và quan điểm về giáo dục của thế giới đang có sự thay đổi sâu sắc khi mà hầu hết các quốc gia đều mong muốn xây dựng một xã hội học tập, phát động tư tưởng học tập suốt đời và thực thi cam kết giáo dục cho mọi 8 người. Những đổi mới trong chính sách phát triển giáo dục đã từng bước biến một số khía cạnh của giáo dục từ lĩnh vực phúc lợi sang lĩnh vực đầu tư. Giáo dục trở thành một ngành dịch vụ mà mọi chủ thể trong xã hội đều có quyền tham gia (ở mức độ nhất định), trong đó Nhà nước với vai trò đặc biệt của mình điều tiết và định hướng sự phát triển của cả hệ thống giáo dục theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. * Tài chính đối với sự phát triển của giáo dục Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội.