Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục phổ thông công lập 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về các cơ sở giáo dục phổ thông công lập 1. Khái niệm về giáo dục phổ thông, các cơ sở giáo dục phổ thông công lập Giáo dục theo nghĩa rộng có thể được hiểu là một phương thức truyền đạt những kinh nghiệm trong cuộc sống của con người.
Ngay từ khi xã hội hình thành, dù dưới mạng lưới thô sơ, giáo dục đã nảy sinh trong cộng đồng như một động lực thúc đẩy cuộc sống xã hội phát triển [8]. Giáo dục được hiểu là quá trình nhằm hình thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người dạy học và người học nhằm để người học lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy trong lịch sử. Giáo dục đào tạo được coi là hoạt động mà xã hội thiết lập nên để tạo điều kiện cho mọi thành viên trong cộng đồng nâng cao tri thức và nhân cách. Tùy theo đặc điểm và hoàn cảnh, mỗi nước trên thế giới có những quan điểm và mô hình giáo dục khác nhau, tuy nhiên về hệ thống giáo dục của từng nước có những điểm tương tự nhau là: giáo dục mầm non (hay còn gọi là giáo dục tiền học đường), giáo dục phổ thông, giáo dục dạy nghề và đại học.
Giáo dục phổ thông giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề hoặc học lên và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho xã hội. Giáo dục phổ thông là hình thức giáo dục chính quy, thực hiện theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo dục phổ thông gồm 2 cấp tiểu học và trung học. Cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5; Cấp trung học gồm: Cấp trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 và cấp trung học phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12 [6].
Hệ thống tổ chức các cơ sở giáo dục phổ thông công lập Mỗi quốc gia khi xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân đều xác định mục tiêu giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng tùy thuộc vào quan điểm phát triển giáo dục trong từng thới kỳ và chế độ chính trị của quốc gia đó. Hệ thống giáo dục Việt nam theo Luật Giáo dục 2005 gồm: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo. - Giáo dục phổ thông có tiểu học, PTCS, THPT. - Giáo dục nghề nghiệp: có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.
- Giáo dục đại học và sau đại học: Đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độ tiến sỹ. - Cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân theo bảng sau: Bảng 1. Cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân - Tiến sỹ Đại học và sau đại học - Thạc sỹ - Đại học - Cao đẳng Giáo dục nghề nghiệp - Trung cấp chuyên nghiệp - Dạy nghề - Trung học phổ thông Giáo dục phổ thông - Trung học cơ sở - Tiểu học - Mẫu giáo Giáo dục mầm non - Nhà trẻ Trong hệ thống này, có thể khẳng định, giáo dục phổ thông có một vị trí hết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sức quan trọng, nó là chiếc cầu nối cơ bản, nó là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia. Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại học, sâu xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động từng nước.
Bởi vậy trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, câu hỏi đầu tiên, trọng tâm đột phá đầu tiên là chú trọng chăm lo cho cấp học phổ thông. Nhận thức rõ vị trí quan trọng này của giáo dục phổ thông, ngày từ khi mới giành được chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh và toàn diện. Hệ thống giáo dục do Nhà nước ta quản lý, bên cạnh giáo dục mầm non, giáo dục bổ túc văn hóa cho người lớn tuổi không có điều kiện học hết phổ thông, giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học là giáo dục phổ thông. Giáo dục phổ thông nước ta, đã qua nhiều thời kỳ cải cách và tổ chức dậy học theo các mô hình chủ yếu như hệ giáo dục 9 năm trong kháng chiến chống Pháp, hệ giáo dục 10 năm trong kháng chiến chống Mỹ và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hệ giáo dục 12 năm từ khi nước nhà thống nhất đến nay.
Quán triệt các quan điểm cơ bản của Đảng ta về phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục phổ thông nói riêng, nhà nước ta, nhân dân ta nói chung và ngành giáo dục nói riêng đã chăm lo không ngừng cho giáo dục phổ thông. Giáo dục phổ thông đã tạo nên những thành tựu hết sức quan trọng và to lớn, cung cấp cho xã hội nhiều lớp thế hệ trẻ, thông minh, sáng tạo, trung thành, dũng cảm, giầu lòng nhân ái, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần chiến đấu và xây dựng tổ quốc phát triển như hôm nay [11]. Trường công lập: Trường thuộc sở hữu nhà nước, do cơ quan có nhà nước cấp Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp quận huyện quản lý. Mọi chi phí hoạt động của nhà trường do NSNN cấp và một phần chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phí do học sinh đóng góp.
Tất cả các loại hình nhà trường này đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Nhà nước. Trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở trường dân lập, tư thục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Nhà trường được thành lập khi đảm bảo các điều kiện về cán bộ quản lý, giáo viên, cơ sở vật chất, và năng lực tài chính theo quy định của Chính phủ. Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục tạo cho người học có kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với sự phát triển xã hội và môi trường nghề nghiệp.
Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở các mặt sau: - Giáo dục góp phần tạo nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn kỹ thuật, một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Các học thuyết phát triển kinh tế từ trước cho đến nay cơ bản đều thống nhất quan điểm cho rằng để phát triển kinh tế, xã hội cần có ba nguồn lực cơ bản: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực tài chính. Vị trí của các nguồn lực này thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Trong nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò cơ bản, quyết định mức sản lượng tạo ra.
Đến nền kinh tế công nghiệp, vị trí hàng đầu thuộc về nguồn lực tài chính. Ngày nay, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, tiền vốn vẫn đóng vai trò quan trọng, nhưng vai trò quyết định sẽ thuộc về nguồn vốn con người - nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh, tăng trưởng và phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì thế, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng luôn được coi là vấn đề ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia [7].
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn nhân lực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), các nhân tố đó là: giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm; và sự giải phóng con người. Năm nhân tố trên có khả năng tạo ra những giá trị cho sự phát triển nguồn nhân lực, chúng gắn bó với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Trong đó, giáo dục và đào tạo là cơ sở của các nhân tố khác.
Bởi lẽ, giáo dục là điều kiện thiết yếu để cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng, cải thiện lao động và để duy trì sự đáp ứng về kinh tế - chính trị nhằm giải phóng con người. Vì lẽ đó, giáo dục được xem như là nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực, là điều kiện không thể thiếu nhằm hình thành nguồn vốn con người có chất lượng [7]. - Giáo dục còn thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc nâng cao trình độ và khả năng thành thạo của người lao động, tức là góp phần tăng năng suất lao động. Mức độ ảnh hưởng của giáo dục đối với năng suất lao động được tính bằng cách so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó trải qua một khóa đào tạo với chi phí của khóa đào tạo đó.
Kết quả này được gọi là tỷ suất lợi nhuận xã hội đầu tư cho giáo dục vào khoảng 8-10%, cao hơn so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của xã hội đầu tư cho các lĩnh vực khác xét về dài hạn. Giáo dục còn được coi là nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững. Khác với vốn vật chất, vốn con người khi được sử dụng sẽ tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm, tri thức. Vì thế, giáo dục không ngừng làm tăng giá trị và có đóng góp ngày càng lớn hơn đối với sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
- Giáo dục góp phần xóa đói giảm nghèo. Nghèo, đói là vấn đề lớn của cả nhân loại, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.