CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CỦA NHNN ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam a. Khái niệm Ngân hàng Nhà nước có tên gọi khác nhau xuất phát từ các yếu tố lịch sử, sở hữu, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tế cũng như truyền thống về văn hoá ở mỗi quốc gia khác nhau như theo hình thức sở hữu, Ngân hàng Nhà nước có tên gọi là Ngân hàng Nhà nước (Việt Nam), Ngân hàng quốc gia (Mônđôva, Iran, Hunggari); Theo tính chất, chức năng có thể là ngân hàng trung ương (Liên bang Nga), ngân hàng dự trữ (Nam phi), Hệ thống dự trữ liên bang (Mỹ) hoặc có thể chỉ là những tên gọi có tính chất lịch sử và kế thừa như Ngân hàng Anh, Ngân hàng Pháp, Ngân hàng Nhật Bản.
Phương thức hoạt động, tính chất, chức năng của các ngân hàng mang bản chất là Ngân hàng Nhà nước có những điểm tương đồng và xuất phát từ những nguyên tắc tổ chức chung nhất. Phần lớn luật về ngân hàng của các nước đều đưa ra khái niệm hoặc thông qua những quy phạm pháp luật xác định đặc điểm, chức năng để thể hiện khái niệm về Ngân hàng Nhà nước. NHTW được hình dung như sau: Là một cơ quan nhà nước thực hiện chức năng QLNN về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; Là một định chế hành chính thực hiện chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ và cho hệ thống các TCTD; NHTW không lấy mục đích lợi nhuận mà hoạt động vì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. NHTW là cầu nối giữa chính phủ với nền kinh tế, giữa thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và ngoài nước, các tổ chức tài chính quốc tế.
NHTW có thể được tổ chức theo mô hình trực thuộc hay độc lập với chính phủ. Luan van 7 Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia, nay là NHNN. Theo pháp luật hiện hành “NHNN là cơ quan ngang bộ của Chính phủ và là NHTW của nước CHXHCN Việt Nam. NHNN là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu Nhà nước.
NHNN thực hiện chức năng QLNN về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ” [8, tr. Từ khái niệm trên có thể nhận thấy: - NHNN là một định chế công cộng thuộc sở hữu Nhà nước, là cơ quan ngang bộ, trực thuộc Chính phủ, Thống đốc mang hàm Bộ trưởng. NHNN được tổ chức và hoạt động theo qui định tại các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Chính phủ. Qui trình bổ nhiệm, miễn nhiệm Thống đốc theo các qui định trong Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ.
- Thực hiện QLNN trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. NHNN sử dụng các phương thức và công cụ quản lý khi thực thi nhiệm vụ của mình, có quyền đơn phương ban hành văn bản quản lý có giá trị pháp lý bắt buộc các đơn vị, cá nhân phải thi hành và có quyền kiểm tra việc thực hiện đó. - NHNN là ngân hàng trung ương. Đây là điểm khác biệt giữa NHNN với các Bộ khác trong Chính phủ.
NHNN còn là một Ngân hàng thực hiện một số hoạt động ngân hàng, bao gồm: hoạt động độc quyền phát hành tiền; cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ và cho các TCTD. - Về mặt dân sự, NHNN là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước do Thủ tướng Chính phủ qui định phù hợp trong từng thời kỳ như hiện nay là 5.000 tỷ đồng được hình thành từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước đã cấp và vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định và Luan van 8 các nguồn vốn được bổ sung. NHNN hoạt động theo nguyên tắc chênh lệch thu, chi hàng năm được xác định từ nguồn thu về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng và các nguồn thu khác, sau khi trừ chi phí hoạt động và khoản dự phòng rủi ro. NHNN trích 10% từ chênh lệch thu, chi để lập quỹ thực hiện CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ; số còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước.
Chức năng NHNN có hai chức năng: là NHTW và chức năng QLNN về tiền tệ, hoạt động ngân hàng để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho cả hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Các chức năng này được thực hiện thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh nhưng đó chỉ là phương tiện nâng cao hiệu quả quản lý chứ không vì doanh lợi mà là vì ổn định tiền tệ và hoạt động ngân hàng, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế. - Chức năng ngân hàng trung ương [1, tr.60-64] Chức năng NHTW có ba nội dung chính, đó là: Ngân hàng phát hành tiền, Ngân hàng của các TCTD và Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. + Ngân hàng phát hành tiền NHNN là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhiệm vụ phát hành tiền bao gồm cung ứng đủ số lượng và cơ cấu các loại tiền cho nền kinh tế; thiết kế, in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền giấy, tiền kim loại và nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế, tiêu huỷ tiền giấy, tiền kim loại; thiết kế, in, đúc, bán ở trong nước và nước ngoài các loại tiền mẫu, tiền lưu niệm. Từ vai trò độc quyền phát hành tiền, NHNN trực tiếp quản lý và điều tiết cung ứng tiền mặt, điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát, qua đó thực hiện CSTT quốc gia. Luan van 9 + Ngân hàng của các TCTD NHNN không tham gia kinh doanh tiền tệ với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các TCTD gồm: Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các TCTD dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; Cấp tín dụng cho các TCTD dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn do các TCTD nắm giữ hay các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHNN. Chức năng này thể hiện qua ba nội dung: (1) NHNN là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các TCTD Các NHTM và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại NHNN (ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHNN) nên có thể thanh toán không dùng tiền mặt qua NHNN thay vì thanh toán trực tiếp với nhau và NHNN có vai trò điều tiết thanh toán giữa các ngân hàng, từ đó NHNN là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các TCTD.
(2) NHNN là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống TCTD. Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền gửi mà các ngân hàng phải lưu lại trong kho tiền mặt hay kí gửi tại NHTW, không được cho vay hết. Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống NHTM và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại. (3) NHNN là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống TCTD.
Trong quá trình hoạt động, các TCTD sẽ có lúc kém thanh khoảng như khi có những đợt rút tiền ồ ạt của các khách hàng vì lãi suất thấp, vì lạm phát cao cho nên lãi suất trở thành âm,… nên TCTD dễ vỡ nợ. Khi TCTD không còn chỗ vay mượn nào khác thì nó phải đến NHNN vay tiền như cứu cánh Luan van 10 cuối cùng. + Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Là một định chế tài chính công cộng, NHNN đã được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của Chính phủ, tức NHNN có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho Chính phủ. Chức năng này thể hiện qua: (1) NHNN là chủ ngân hàng của Chính phủ Tùy theo đặc điểm tổ chức của từng nước, Chính phủ có thể ủy quyền cho Bộ Tài chính hay Kho bạc Nhà nước đứng tên và làm chủ tài khoản ở NHNN, làm thủ tục để rút tiền gửi từ NHNN như một khách hàng bình thường khi Chính phủ cần.
Khi thâm hụt ngân sách, Chính phủ có nhiều cách bù vào như: vay của dân bằng cách phát hành công trái, vay của nước ngoài…và vay của NHNN bằng cách thế chấp bằng các loại tài sản mà Chính phủ có như chứng thư chủ quyền tài sản, chứng khoán, vàng. (2) NHNN là đại lý của Chính phủ NHNN thay mặt Chính phủ trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài. Với tư cách này nó NHNN thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu… cho Chính phủ kể cả trong và ngoài nước. (3) NHNN là cố vấn tài chính cho chính phủ Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của ngân sách không hài ḥa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô.
Với lư do trên NHTW phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. (4) NHNN là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia Là ngân hàng của Chính phủ, NHTW có nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia. NHTW có thể can thiệp bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ, tăng Luan van 11 hay giảm giá đồng tiền trong nước bằng nghiệp vụ mua bán trên thị trường vàng và ngoại tệ tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền và thay đổi tỉ giá hối đoái, tác động đến tổng cầu, sản xuất, thu nhập và giá cả nên đương nhiên tác động đến kinh tế vĩ mô. - Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ và hoạt động ngân hàng [1, tr.16-19] Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành.
Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW. Chức năng này thể hiện qua việc thực hiện CSTT quốc gia và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, hệ thống các TCTD.