CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 1.1 Tổng quan về phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại NHTM 1.1 Khái niệm chung về phân tích tài chính doanh nghiệp tại NHTM Trong thực tế, phân tích tài chính doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều khái niệm khác nhau dựa trên quan điểm và cách nhìn nhận riêng của mỗi chuyên gia tài chính. Theo Lê Thị Xuân ( 2018) “ Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó”. TS Ngô Thế Chi và PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ (2015) nêu rằng phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quản lý hữu hiệu, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Theo Phương Thảo (2021) “ Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc phân tích các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong kinh doanh và vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải.
Mặc dù được phát biểu theo nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của PTTC của khái niệm trên đều giống nhau. Dưới góc nhìn của NHTM thì PTTC được định nghĩa là “Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với NHTM là một tập hợp các phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tài trợ cho doanh nghiệp hay không. Đặng Thị Thu Thủy 5 2022 Khóa luận tốt nghiệp HVNH 1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp Theo Lê Thị Xuân ( 2018), Hoạt động tài chính doanh nghiệp liên quan đến nhiều đối tượng, từ các nhà quản trị ở doanh nghiệp đến các nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước… Nên mục tiêu phân tích của mỗi đối tượng khác nhau. Phân tích Tài chính doanh nghiệp cần đạt những mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất là đánh giá chính xác tình hình tài chính doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau như cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng sinh lời, rủi ro tài chính… nhằm đáp ứng thông tin cho tất cả những đối tượng quan tâm đến Tài chính doanh nghiệp như nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng, cơ quan thuế, người lao động… Thứ hai là định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi nhuận… Thứ ba là trở thành cơ sở cho các dự báo tài chính, giúp cho người phân tích tài chính có thể dự đoán được tiềm năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai.
Thứ tư là công cụ để kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu kết quả đạt được so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán, định mức…Từ đó, xác định được những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh, góp phần giúp cho doanh nghiệp có được những quyết định cũng như giải pháp đúng đắn, đảm bảo việc kinh doanh hiệu quả cao. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng với các nhà quản trị doanh nghiệp.3 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp Theo Lê Thị Xuân (2018), dưới sự quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của một doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Việc phân tích TCDN giúp cho những đối tượng này có những thông tin phù hợp với yêu cầu hay mục đích sử dụng của bản thân để từ đó đưa ra những quyết định hợp lý. Đối với NHTM phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định có hay không cấp tín dụng, cấp tín dụng ngắn hạn hay dài hạn, NHTM quan tâm đến doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay vốn hay không, khả năng thực hiện các cam kết trong quá khứ, các bổn phận của người vay cũng như khả năng xử SV.
Đặng Thị Thu Thủy 6 2022 Khóa luận tốt nghiệp HVNH lí nợ nần và thiện ý của doanh nghiệp trong trả nợ trước các chủ nợ. Đặc biệt, NHTM quan tâm đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng hiện tại và trong tương lai như thế nào. Phân tích các khoản cho vay dài hạn và ngắn hạn là khác nhau. Nếu quyết định cho vay ngắn hạn, NHTM đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, thì trước quyết định cho vay dài hạn, NHTM lại đặc biệt quan tâm đến khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.4 Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quy trình phân tích tài chính KHDN là thu thập và xử lý thông tin làm cơ sở cho công tác phân tích.
Để có được thông tin, NH có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau. Có được nguồn thông tin phù hợp, đáng tin cậy sẽ giúp cho chất lượng công tác phân tích tài chính KHDN được hiệu quả hơn. ➢ Thông tin tài chính Đối với công tác phân tích tài chính KHDN trong hoạt động tín dụng tại NHTM, các nhà phân tích quan tâm và chú trọng chủ yếu nguồn tư liệu từ BCTC.BCTC là bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, tài chính, kết quả kinh doanh, các luồng tiền của DN trong một thời kỳ cụ thể. Theo chế độ kế toán DN hiện hành ( Thông tư 200 và Thông tư 202 của bộ tài chính), hệ thống BCTC của DN bao gồm 4 mẫu biểu báo cáo sau: • Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp như cơ cấu tài sản, lực hoạt động của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ. Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần tài sản và nguồn vốn: Tài sản = Nguồn vốn= Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu SV. Đặng Thị Thu Thủy 7 2022 Khóa luận tốt nghiệp HVNH - Phần tài sản: gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị các tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo kết cấu tài sản và hình thức tồn tại của nó.
Trong đó chia làm 2 loại: tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn. - Phần nguồn vốn: gồm các chỉ tiêu phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo. Trong đó chia thành 2 loại: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Kết cấu 2 phần của bảng CĐKT được bố trí theo chiều dọc bao gồm hệ thống các chỉ tiêu phản ánh nội dung từng khoản vốn, nguồn vốn hiện có tại thời điểm báo cáo.
Các chỉ tiêu được xếp thành từng mục, khoản theo một trình tự khoa học phù hợp yêu cầu quản lý. Trong mỗi phần đều được bố trí các cột mã số của các chỉ tiêu trên bảng CĐKT. Cột số đầu năm và số cuối kì để ghi giá trị từng khoản tài sản, nguồn vốn tại thời điểm đầu năm và cuối kì báo cáo. • Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình và các kết quả hoạt động của một doanh nghiệp trong một thời kì nhất định bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả hoạt động khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của Báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng só sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai, dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoan trước đây về các luồng tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả.