Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CAC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Việc nghiên cứu và áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ đã đi đến việc nhận thức và định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ theo nhiều mức độ khác nhau. Theo định nghĩa do COSO ( Committee of Sponsoring Orgnization) là một Uỷ ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (National Commission on Fraudulent Financial Reporting) đưa ra đã được thừa nhận rộng rãi thì hệ thống kiểm soát nội bộ được xác định như sau: “ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, người điều hành và các nhân viên khác chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện được các mục tiêu sau đây: (a) Báo cáo tài chính đáng tín cậy, (b) hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, (c) các luật lệ và các quy định được tuân thủ.” 9 Viện kế toán quốc tế đưa ra định nghĩa “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra” Tại chuẩn mực kế toán quốc tế ISA 400 về đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ đã đưa ra định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ như sau “ Hệ thống kiểm soát nội bộ là bao gồm tất cả các chính sách và thủ tục ( kiểm soát nội bộ) được chấp nhận bởi người quản lý của một tổ chức để giúp đạt các mục tiêu quản trị đã đề ra, cũng như khả năng áp dụng vào thực tế, tuân thủ và kiểm soát các mặt hoạt động của tổ chức, bao gồm cả việc tôn trọng chính sách quản lý, an toàn tài sản, ngăn ngừa và phát hiện những vi phạm và sai sót, sự chính xác và toàn diện các ghi nhận kế toán, sự kịp thời và đáng tin cậy của các thông tin tài chính” Trong báo cáo đặc biệt về kiểm soát nội bộ do uỷ ban AICPA phát hành năm 1949 về các thủ tục làm việc đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ: “ Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động, và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài” Từ các định nghĩa trên, hệ thống kiểm soát nội bộ được hiểu như sau: - Kiểm soát nội bộ là một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức. Nó được thiết kế bằng sự kết hợp nhiều khâu trong quá trình quản trị và vận hành tổ chức nhưng các khâu được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất tạo nên hệ thống kiểm soát nội bộ. 10 - Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình giám sát thường xuyên, liên tục, là phương tiện để các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt động của tổ chức mình đồng thời nó đảm bảo hiệu quả, an toàn cho hoạt động, tuân thủ các quy định của luật pháp và đảm bảo sự tin cậy của những thông tin tài chính.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người. Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu, các quy định mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các thành viên trong tổ chức. Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. - Kiểm soát nội bộ đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện.
Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người hoặc sự khiếm khuyết trong bản thân hệ thống kiểm soát nội bộ nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu đề ra. Ngoài ra, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngăn chặn và phát hiện những rủi ro, sai phạm nhưng không thể đảm bảo rằng nó không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các biện pháp để kiểm soát rủi ro tương ứng.
Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội bộ. Theo hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IIA thì “ Kiểm toán nội bộ là hoạt động bảo đảm và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu thông qua việc đưa ra 11 một cách tiếp cận có hệ thống và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm soát và giám sát”. Như vậy, kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Trên cơ sở đó có các kiến nghị với các cấp quản trị của tổ chức để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, nếu xét về mặt tổng thể và tính hệ thống thì kiểm toán nội bộ cũng nằm trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ được thiết lập và vận hành nhằm mục đích cuối cùng là kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động là việc thực hiện quản trị rủi ro của các tổ chức. Trong khi kiểm toán nội bộ chỉ tập trung vào đánh giá việc quản trị rủi ro sau khi các hoạt động đã diễn ra thì kiểm soát nội bộ lại thực hiện cả việc kiểm soát rủi ro trước và sau các hoạt động.
Nói cách khác, kiểm toán nội bộ chỉ là một phần của quá trình kiểm soát nội bộ. Ngoài ra, trong quá trình quản trị và điều hành tổ chức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không độc lập khỏi quy trình nghiệp vụ mà nó được bố trí, xây dựng trong mọi quy trình tác nghiệp của tổ chức còn kiểm toán nội bộ độc lập khỏi quy trình tác nghiệp để bảo đảm tính khách quan, hiệu quả. 2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu của tổ chức nhưng hệ thống kiểm soát nội bộ muốn vận hành hiệu quả phải có những bộ phận cấu thành cơ bản. Theo mô hình do tổ chức COSO đưa ra và cũng được coi là quan điểm cơ bản, phổ biến hiện nay thì hệ thống kiểm soát nội bộ phải gồm những bộ phận chủ yếu sau: - Môi trường kiểm soát - Đánh giá rủi ro 12 - Hoạt động kiểm soát - Thông tin và trao đổi thông tin - Giám sát a) Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm phương châm quản lý và phong cách kinh doanh (hoạt động) của Ban lãnh đạo, sự tham gia của những người chịu trách nhiệm quản trị doanh nghiệp hoặc điều hành tổ chức, hiệu quả của cơ cấu tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tin cậy của các ước tính của ban lãnh đạo Môi trường kiểm soát là nền móng cho toàn bộ các yếu tố còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ, quy định nguyên tắc và cơ cấu.
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là: - Tính trung thực và giá trị đạo đức: sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính trung thực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát. Để đáp ứng yêu cầu này, nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực đạo đức trong tổ chức và có những xử lý thích hợp nhằm đảm bảo ngăn ngừa các thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp. - Đảm bảo về năng lực: là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ của mình.
Nhân tố này có thể đạt được và duy trì với điều kiện nhà quản lý thực hiện tuyển dụng nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu vị 13 trí công việc mà họ dự kiến được đảm nhiệm. Ngoài ra, việc đào tạo lại, huấn luyện và truyền thụ những bí quyết kinh nghiệm thực hiện công việc của tổ chức cũng rất quan trọng. - Hội đồng quản trị và uỷ ban kiểm toán ( ban kiểm soát): Đối với các công ty đại chúng ( công ty cổ phần) theo quy định phải có Ban kiểm soát, nếu Công ty có quy mô ở mức độ nhất định hoặc các định chế tài chính như ngân hàng thương mại thì có uỷ ban kiểm toán. Đây là uỷ ban gồm có một số thành viên trong, hoặc ngoài Hội đồng quản trị nhưng không trực tiếp điều hành đơn vị.
Ủy ban này giám sát sự tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập các báo cáo tài chính, giữ sự độc lạp của kiểm toán nội bộ… do các chức năng quan trọng trên nên sự hoạt động hiệu quả của Ban kiểm soát ( Uỷ ban kiểm toán) ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát.